PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Dịch vụ ngày càng giữ vai trò quan trọng chi phối tới mọi hoạt động của xã hội đặc biệt là các hoạt động kinh tế. Sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng kéo theo sự lớn mạnh không ngừng cả về quy mô và tốc độ của thƣơng mại dịch vụ.
Thƣơng mại dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia đóng góp lớn vào tăng trƣởng kinh tế và tạo công ăn việc làm nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. So với một số nƣớc trong khu vực và thế giới, nhiều ngành dịch vụ của Việt Nam vẫn chƣa phát triển. Các ngành dịch vụ Việt Nam còn tỏ ra nhiếu yếu kém nhƣ: trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu; chất lƣợng dịch vụ chƣa cao; trình độ đội ngũ nhân viên còn nhiều hạn chế dẫn đến năng lực cạnh tranh còn thấp. Chính sách về thƣơng mại dịch vụ của Việt nam còn tản mát, thiếu đồng bộ và chƣa đƣợc quan tâm đầy đủ nhƣ chính sách đối với thƣơng mại hàng hoá.
Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ còn rất khiêm tốn do nhiêu nguyên nhân, trong đó, các chính sách xuất khẩu dịch vụ gần nhƣ bị lãng quên. Trong điều kiện Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, các ngành dịch vụ của Việt Nam cần có những bƣớc chuyển mình kịp thời, tự hoàn thiện mình cũng nhƣ cần có một chính sách thƣơng mại dịch vụ hoàn chỉnh trong tƣơng lai để nắm bắt vận hội mới, vƣơn lên hội nhập với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới là một yều cầu rất cấp thiết. Chỉ có một khu vực dịch vụ phát triển bền vững thì mới có thể nâng cao chất lƣợng dịch vụ, tăng nhanh tỷ trong dịch vụ xuất khẩu. Do đó, việc nghiên cứu về chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt nam trong những năm gần đây, đƣa ra những kiến nghị nhằm phát triển các ngành dịch vụ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Trong bối cảnh đó, tôi chọn đề tài: “Chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm Luận văn Thạc sỹ ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế quốc tế. Tổng quan tình hình nghiên cứu Dịch vụ ngày càng giữ vai trò quan trọng chi phối tới mọi hoạt động của xã hội đặc biệt là các hoạt động kinh tế. Sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng kéo theo sự lớn mạnh không ngừng cả về quy mô và tốc độ của thƣơng mại dịch vụ. Thƣơng mại dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia đóng góp lớn vào tăng trƣởng kinh tế và tạo công ăn việc làm nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác.
Với vai trò ngày càng tăng của dịch vụ, hầu hết các nƣớc phát triển trên thế giới đều có những chính sách thúc đẩy sự phát triển của khu vực này. Cho đến nay, trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển dịch vụ. Tuy nhiên, những công trình này cũng chỉ mới nghiên cứu những đặc trƣng và xu hƣớng phát triển của một số ngành dịch vụ, chứ chƣa phân tích vào khía cạnh chính sách đối với khu vực dịch vụ. Ở Việt Nam, các ngành dịch vụ mới chỉ thực sự đƣợc chú ý từ đầu những năm 1990.
Từ đó đến nay, các ngành dịch vụ phát triển còn manh mún, đôi khi mang tính tự phát do Hệ thống chính sách của Việt nam đối với khu vực dịch vụ chƣa đƣợc đầy đủ và đồng bộ. Việc nghiên cứu và phân tích chính sách thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ chƣa đƣợc quan tâm. Một số công trình nghiên cứu về dịch vụ và phát triển dịch vụ ở Việt nam có thể kể đến nhƣ: 1) Đề tài: Sự phát triển thương mại và du lịch Việt Nam đến năm 2000 (đề tài NCKH cấp Bộ - Vụ thƣơng mại và du lich, Bộ thƣơng mại 1998) chủ yếu nghiên cứu thực trạng và tình hình thƣơng mại dịch vụ và du lịch Việt Nam giai đoạn 1991 - 1995. Đề ra mục tiêu và chính sách phát triển thƣơng mại dịch vụ và du lịch Việt Nam thời kỳ 1996 - 2000.
Đề tài chƣa đi sâu phân tích khía cạnh chính sách đối với dịch vụ trong những năm gần đây, nên chƣa làm nổi bật đƣợc tác động của hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Việt nam đối cới sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ. 2) Đề tài: “Nghiên cứu về chế độ MFN và NT nhằm hoàn thiện và bổ sung chính sách thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ của Việt Nam” của tác giả Hoàng Tích Phúc (Đề tài số 2001-78-024 của Vụ Chính sách thƣơng mại đa biên – Bộ thƣơng mại, 2001) với nội dung nghiên cứu về các quy định quốc tế và khu vực -2- z về MFN và MT, từ đó đƣa ra các khuyến nghị về những lĩnh vực và mức độ Việt Nam có thể cho các đối tác nƣớc ngoài hƣởng MFN và NT. Tuy nhiên, đề tài chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu Quy chế MFN và NT cho thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ nói chung chứ chƣa đề cập đến lĩnh vực xuất khẩu dịch vụ và việc hoàn thiện chính sách cho xuất khẩu dịch vụ, một hoạt động kinh doanh chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của Việt Nam. 3) Đề tài: Cơ sở khoa học xây dựng định hướng mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005, tầm nhìn đến 2010” Do Vụ Đa biên- Bộ Thƣơng mại (Nay là Bộ Công Thƣơng) thực hiện 2002.
Đây là đề tài đã đi vào phân tích và làm rõ cơ sở khoa học cho việc đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ. Tuy nhiên, đề tài chƣa đi sâu phân tích vào khía cạnh chính sách của xuất khẩu dịch vụ. Bên cạnh đó, do hoàn thành từ 2002, nên các số liệu minh chứng trong đề tài không còn phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam hiện nay. 4) Đề tài “Mục tiêu và giải pháp phát triển dịch vụ giai đoạn 2001-2005” của Vụ Thƣơng mại Đa biên - Bộ Thƣơng mại.
Đề tài nói trên mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng mục tiêu và giải pháp để phát triển dịch vụ nói chung, chƣa đi sâu vào phân tích hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam. Các chính sách đối với xuất khẩu dịch vụ trong đề tài rất mờ nhạt. 5) Đề tài “Phát triển khu vực dịch vụ” của Nhóm tác giả thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng (Ciem - Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoà (đồng chủ biên) NXB Thống kê, 2007). Đây là đề tài nghiên cứu cấp Bộ, đã đƣa ra đƣợc những đánh giá khá chi tiết về tình hình phát triển dịch vụ của Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các ngành dịch vụ của Việt Nam.
Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về phát triển dịch vụ nói chung, không đi sâu vào khía cạnh xuất khẩu dịch vụ nên không có những đánh giá về chính sách đối với xuất khẩu dịch vụ. 6) “Thương mại dịch vụ quốc tế, chính sách và các vấn đề đàm phán đối với Việt nam”, Dự án VIE/95/024/01/99 tháng 4/2000 của Viện NCQLKT TW. Nội dung của Dự án này tập trung phân tích về những quy định đối với thƣơng mại dịch vụ quốc tế trong khuôn khổ của WTO và những vấn đề Việt Nam cần phải đàm -3- z phán. Tuy nhiên, một số vấn đề mà dự án đã nêu, hiện nay không còn phù hợp do Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.
7) Đề tài: “Chiến lược phát triển dịch vụ” của Phòng Thƣơng mại Việt Nam. Cũng giống nhƣ đề tài (3), (4), đề tài nói trên chủ yếu phân tích đánh giá hoạt động của lĩnh vực dịch vụ nói chung và đề xuất giải pháp để xây dựng chiến lƣợc cho việc phát triển dịch vụ của Việt Nam, mà không đi sâu phân tích, đánh giá về hoạt động xuất khẩu dịch vụ cũng nhƣ chính sách để đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ. Ngoài ra còn một số các bài báo đăng trên các Tạp chí chuyên ngành khác. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu nói trên chƣa đi vào phân tích, đánh giá khía cạnh chính sách đối với xuất khẩu dịch vụ, mà chỉ đi vào phân tích, đặc điểm, xu hƣớng phát triển của khu vực dịch vụ hoặc chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động của một số ngành dịch vụ cụ thể nhƣ: tài chính, ngân hàng, du lịch, vận tải, bƣu chính viễn thông.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn. Mục đích nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt nam, đặc biệt ở một số ngành nhƣ: vận tải, du lịch và tài chính – ngân hàng nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt nam. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung của chính sách xuất khẩu dịch vụ trong điều kiện hội nhập.
- Nghiên cứu chính sách xuất khẩu dịch vụ của một số nƣớc điển hình để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. - Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam, từ đó làm rõ nguyên nhân của những tồn tại của chính sách xuất khẩu dịch vụ trong thời gian qua. Trong đó, nhấn mạnh các nguyên nhân về chính sách của Nhà nƣớc đối với xuất khẩu dịch vụ. - Xây dựng và đề xuất các giải pháp trƣớc mắt và lâu dài nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của luận văn. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là là chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Phạm vi nghiên cứu.
- Về thời gian, luận văn giới hạn nghiên cứu chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam kể từ 1996. Đây là mốc thời gian đánh dấu sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, khẳng định đƣờng lối tiếp tục đổi mới và Hội nhập, một tiền đề quan trọng cho việc Việt Nam gia nhập APEC vào năm 1998 và đẩy mạnh đàm phán gia nhập WTO.