CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Cơ sở lý luận về thương mại quốc tế 1. Một số khái niệm liên quan đến thương mại quốc tế Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về thương mại dịch vụ. Trong đó, thương mại được hiểu là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ.
Luật thương mại quốc tế lại coi hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt động thương mại. Trong ngành thương mại có ba lĩnh vực chính, đó là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư. Thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận. Trao đổi hàng hóa, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ riêng biệt của các quốc gia.
Thương mại quốc tế vừa được coi là một quá trình kinh tế lại vừa được coi là một ngành kinh tế. Với tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế được hiểu là một quá trình bắt đầu từ khâu điều tra nghiên cứu thị trường cho đến khâu sản xuất – kinh doanh, phân phối, lưu thông – tiêu dùng và cuối cùng lại tiếp tục tái diễn lại với quy mô và tốc độ lớn hơn. Còn với tư cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn hóa, có tổ chức, có phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động, vốn, vật tư, hàng hóa,. là hoạt động chuyên mua bán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ với nước ngoài nhằm mục đích kinh tế.
Những đặc trưng của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là những quan hệ giữa những người tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn ở trình độ cao và quy mô lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 Thương mại quốc tế là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của các nước nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau. Quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong thương mại quốc tế mang tính chất kinh tế - xã hội hết sức phức tạp, chịu sự điều tiết của các hệ thống pháp luật của các nước khác nhau và cả các luật, điều ước, công ước, qui tắc, thông lệ. mang tính chất quốc tế.
Trong quan hệ thương mại quốc tế các nhà kinh doanh phải quan tâm đến không chỉ một đồng tiền của quốc gia mình mà cần phải nắm rõ tình hình thị trường tiền tệ, chính sách tiền tệ của các nước khác nữa để lựa chọn sử dụng một đồng tiền thanh toán hợp lý nhất vì đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên tham gia. Quan hệ thương mại quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thương mại quốc tế của các nước, đặc biệt là việc quản lý thương mại quốc tế thông qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và các công cụ phi thuế quan khác của các nước. Hàng hóa, dịch vụ tham gia vào thương mại quốc tế thì phải phù hợp với những qui định của các nước về chính sách mặt hàng và là loại hàng hóa, dịch vụ mà thế giới chấp nhận. Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá, tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nền kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế.
Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau. Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch do đó ngày càng phong phú. Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 phát triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới.
Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế. Sự phát triển của khoa học, công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển, đã giúp cho nhiều nước trở thành nước công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển. Sự ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế Nhà nước ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũng như sự hiệp tác và liên minh kinh tế dưới nhiều hình thức khác, đã đánh dấu sự phân công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển chưa từng có. Hệ quả trực tiếp là tốc độ phát triển ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các nước tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế đều đã tăng mạnh và liên tục trong các thập niên gần đây.
Năm 1950, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm 1990 nghĩa là 4 thập niên sau đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân hàng năm tăng 10,5%. Điều lưu ý là suốt thời kỳ dài, từ sau thế chiến thứ hai đến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, mặc dù đã trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung tốc độ tăng của thương mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới. Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, song có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt được hiệu quả kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại. Thực tế cho thấy những lợi nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước, tuy rất quan trọng nhưng còn ít hơn nhiều so với lợi nhuận thu được nhờ tăng cường tính đa dạng và chuyên môn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau.
Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 hết các nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới. Thương mại trong ngành là biểu hiện phát triển cao độ của sản xuất chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay. Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu xe hơi sang Hồng Kông nhưng lại có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã không làm được, là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars.) sang Đức, nhưng lại nhập xe hơi (như Mercedes, Audis. Điều dễ hiểu là mặc dù đều là xe hơi nhưng tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so với tất cả các loại xe hơi do Đức sản xuất.
Tương tự như vậy, Nhật là cường quốc về sản xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, JVC, Sanyo. nhưng vẫn không ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nước ngoài như Philip của Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của Hàn Quốc. Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương mại giữa các nước về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác nhau về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu dùng, do có sự khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả. Quá trình Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986), mở ra bước ngoặt trong tư duy và thực tiễn hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Đại hội đã chỉ ra định hướng trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam đó là: Đa dạng hóa thị trường và phương hướng hoạt động theo quan điểm “mở cửa”, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia và cùng có lợi. Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007. Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO và hơn 11 năm tiếp theo là quá trình đàm phán, đồng thời sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản luật pháp để đáp ứng đòi hỏi của một quốc gia muốn gia nhập WTO. Sau khi là thành viên WTO, hệ thống luật pháp nước ta tiếp tục được hoàn thiện để thực hiện cam kết với WTO theo lộ trình đối với ngành và lĩnh vực kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Sau hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.