CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỖI QUỐC GIA 1. Khái niệm chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng với những nghĩa khác nhau trong các tài liệu khoa học, theo Crane (1982) trong tác phẩm The Evaluation of socia policies. Kluwer Nijhoff, Boston “Chính sách là sự cam kết một đường hướng hành động dựa trên những kế hoạch và nguyên tắc chung”. Một số nhà nghiên cứu khác như Harman (1980) Hogwood và Gunn (1984) cho rằng: “Về cơ bản chính sách được xem xét như đường hướng hành động hoặc không hành động để tiến tới đạt mục đích mong muốn” o Theo cách hiểu này, chính sách được xem như một quá trình, nó bao gồm không chỉ việc xây dựng chính sách mà còn bao hàm cả việc triển khai, đánh giá và điều chỉnh chính sách.
Đây là cách hiểu chính sách một cách thực tiễn nhất, bởi chỉ xem xét chính sách là một quá trình và đường hướng của một hành động hoặc không hành động thì chính sách mới thực sự giúp giải quyết vấn đề và đạt tới mục tiêu. Hơn thế nữa, chỉ khi xem chính sách là một quá trình, thì tính biện chứng của việc thực hiện chính sách, điều chỉnh chính sách, và mục tiêu mới được đảm bảo trong quá trình thay đổi của điều kiện môi trường o Quan điểm quá trình được chấp nhận rộng rãi trong xây dựng và thực thi chính sách. Khái niệm làm chính sách (xây dựng chính sách) được hiểu là việc chuẩn bị quyết định và ban hành chính sách – một bộ phận của quá trình lớn hơn, quá trình chính sách. Quá trình chính sách bao gồm nhiều bước và giai đoạn trong đó chính sách được xây dựng, thông qua và thực thi trong thực tiễn [118].
Như vậy, chính sách có thể được hiểu là: “Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi, lặp lại”. Trên giác độ vĩ mô chủ thể đưa ra chính sách là chính phủ, chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Chính sách vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định nào là có thể và không thể. Theo đó, 14 chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức nào đó vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, của quốc gia.
Trong các tài liệu tiếng Anh, khái niệm về chính sách thương mại quốc tế được viết ngắn gọn là chính sách thương mại (trade policy); Mạng lưới điện toán của nước Anh định nghĩa: “Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của chính phủ nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương” [47. Theo Trung tâm Kinh tế quốc tế của Úc (CIE), hệ thống các chính sách thương mại quốc tế có thể được phân chia bao gồm các quy định về thương mại, chính sách xuất khẩu, hệ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác [131]. Các quy định về thương mại bao gồm hệ thống các quy định liên quan đến thương mại (hệ thống pháp quy); hệ thống giấy phép, chính sách đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kiểm soát doanh nghiệp); việc kiểm soát hàng hoá theo các quy định cấm xuất, cấm nhập; kiểm soát khối lượng; kiểm soát xuất nhập khẩu theo chuyên ngành (kiểm soát hàng hoá). Để khuyến khích xuất khẩu, chính phủ các quốc gia đã áp dụng các biện pháp như miễn thuế, hoàn thuế, tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Để hạn chế xuất khẩu, các chính phủ có thể áp dụng các lệnh cấm xuất, cấm nhập, hệ thống giấy phép, các quy định kiểm soát khối lượng hay quy định về cơ quan xuất khẩu và các quy định về thuế đối với xuất khẩu. Các chính sách hỗ trợ khác được áp dụng bao gồm khuyến khích khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành hướng vào xuất khẩu (miễn thuế và ưu đãi thuế) hay khuyến khích các nhà đầu tư trong nước bằng các khoản tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, đảm bảo tín dụng xuất khẩu và cho phép khấu hao nhanh các tài sản, hoạt động hỗ trợ từ các tổ chức xúc tiến thương mại. Theo Krugman và Obstfeld: các công cụ của chính sách thương mại quốc tế có thể được phân chia thành các công cụ thuế quan và phi thuế quan [49]. Hệ thống thuế được xem xét thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp.
Các công cụ thuế quan: Thuế quan là một khoản tiền mà người chủ hàng xuất khẩu (hoặc nhập khẩu) hoặc xuất o nhập cảnh phải nộp cho cơ quan đại diện, 15 cơ quan hải quan của nước sở tại. Thuế quan có tác động điều tiết lượng hàng hóa xuất khẩu (nhập khẩu) và tăng thu cho ngân sách của Nhà nước. Đây là biện pháp mà WTO (Tổ chức thương mại thế giới) cho phép sử dụng để bảo vệ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy có xu hướng ngày càng giảm đi. Sự tự do hóa biểu hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệ quốc (MFN), chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như: EU, NAFTA, AFTA, APEC… o Chính sách thuế quan đối với hàng xuất khẩu bao gồm các quy định về: Mức thuế suất xuất khẩu; các mặt hàng xuất khẩu chịu thuế suất; cách tính thuế; thời hạn nộp thuế.
Các công cụ phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan (NTM) là những biện pháp ngoài thuế quan có liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước. Phần lớn các biện pháp phi thuế thường được áp dụng cho hoạt động quản lí nhập khẩu hàng hoá, khi nói tới hàng rào phi thuế là nói tới các biện pháp phi thuế quan có tính chất bảo hộ nền sản xuất trong nước, chúng đặt ra các quy định khắt khe hơn đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào thị trường nội địa. Các biện pháp phi thuế áp dụng cho hoạt động xuất khẩu bao gồm: Biện pháp quản lí định lượng là những quy định của một quốc gia về số lượng hoặc giá trị hàng hoá được xuất khẩu. Bao gồm các quy định: (1) Cấm xuất khẩu: là việc Nhà nước không cho phép một hay một mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài (2) Hạn ngạch xuất khẩu (quota): là biện pháp dùng để hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng hoá xuất khẩu sang một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
(3) Quy định về giấy phép xuất khẩu: Giấy phép xuất khẩu là một văn bản cho phép các doanh nghiệp được thực hiện xuất khẩu, phải xuất trình cơ quan hải quan kiểm tra khi thực hiện xuất khẩu. Có 2 loại giấy phép xuất khẩu: (1) Giấy phép xuất khẩu tự động là một văn bản cho phép thực hiện hoạt động xuất khẩu không theo điều kiện gì đối với người làm đơn xin giấy phép o Chế độ cấp phép này mang tính quản lý để điều tiết hoạt động xuất khẩu chứ không cản trở hoạt động xuất khẩu. (2) Giấy phép 16 xuất khẩu không tự động là giấy phép chỉ cho phép được thực hiện xuất khẩu mặt hàng khi người xuất khẩu đáp ứng được một số điều kiện cần thiết. Các biện pháp tương đương thuế quan là các biện pháp làm gia tăng giá hàng xuất khẩu theo cách tương tự như thuế quan.
Biện pháp tương đương thuế quan áp dụng đối với hàng xuất khẩu tại Việt Nam là biện pháp phụ thu cho một số mặt hàng xuất khẩu. Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp bao gồm: quy định về quyền kinh doanh xuất khẩu (Quyền kinh doanh xuất khẩu là quyền dành cho một số công ty nhất định được tiến hành hoạt động xuất khẩu đối với tất cả các mặt hàng hoặc một số mặt hàng nhất định trên một số thị trường nhất định hoặc trong một thị trường nhất định), quy định về đầu mối xuất khẩu. Biện pháp liên quan đến đầu tư: yêu cầu về tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc (Yêu cầu tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc là tỉ lệ sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị sản xuất phải thực hiện xuất khẩu. Lí do đưa ra tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc vì sản xuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, số lượng) Các biện pháp quản lí ngoại tệ Nhóm biện pháp tài chính: (1) Tín dụng xuất khẩu (là hình thức cho vay hoặc trả sau): Cấp tín dụng là việc Nhà nước cung cấp vốn với mức ưu đãi lãi suất thấp cho các doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình trao đổi, buôn bán và xuất khẩu hàng hoá.
(2) Trợ cấp xuất khẩu: là việc Chính phủ dành cho doanh nghiệp những lợi ích mà trong điều kiện thông thường doanh nghiệp không thể có được. Bao gồm các hình thức: (1) Chính phủ trực tiếp cấp tiền (cấp vốn, cho vay ưu đãi hoặc góp cổ phần) hoặc Chính phủ bảo lãnh các khoản vay. (3) Chính phủ cung ứng những khoản trợ cấp cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu hay tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu mà họ không phải hoàn trả lại cho Nhà nước o Đây là điểm khác với tín dụng xuất khẩu. Thủ tục hải quan: là quy trình mà nhà xuất khẩu phải tiến hành khi xuất khẩu hàng hoá qua biên giới.
17 Các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp là các thủ tục, biện pháp áp dụng đối với các hàng hoá bị coi là bán phá giá hay trợ cấp; Thúc đẩy xuất khẩu thông qua các khu công nghiệp và khu chế xuất tạo điều kiện cho các nhà sản xuất xuất khẩu những ưu đãi như: tiền thuê đất, hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, nước, viễn thông) hiệu quả và đáng tin cậy, thủ tục hành chính thuận lợi. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chính sách thương mại của một nước là: “Khuôn khổ hoàn chỉnh các luật, quy định, các hiệp định quốc tế và kết quả đàm phán được Chính phủ một nước chấp nhận để đạt được sự tiếp cận thị trường có ràng buộc về mặt pháp lý đối với các công ty trong nước” (Goode, 1998, P.