MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng và lợi thế về sản xuất và xuất khẩu nông sản. Xuất khẩu nông sản không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội sâu sắc. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tại Việt Nam đang gặp phải những trở ngại nhất định do phải đối mặt với các rào cản phi thuế quan từ Trung Quốc, đặc biệt là biện pháp TBT và SPS.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2022, ngành nông nghiệp đạt tổng kim ngạch xuất khẩu là 53,22 tỷ USD. Việt Nam đã có 11 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 6 mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu đạt trên 3 tỷ USD tôm 4,3 tỷ USD; cà phê 4 tỷ USD; gạo 3,5 tỷ USD; cao su 3,3 tỷ USD; rau quả 3,3 tỷ USD; hạt điều 3,1 tỷ USD). Kết quả này của ngành nông sản có được một phần là nhờ kết quả của nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong quá khứ. Cho đến hết năm 2022, Việt Nam đã tham gia vào khoảng 16 hiệp định thương mại song phương và đa phương.
Đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CAFTA và CPTPP là hai hiệp định lớn và quan trọng đã giúp thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam với mức đãi ngộ về thuế quan sâu cho hàng nông nghiệp. Tuy vậy nhưng xuất khẩu nông sản Việt Nam vẫn gặp phải nhiều khó khăn khi các biện pháp TBT và SPS ngày càng gia tăng về mặt số lượng cũng như mức độ nghiêm ngặt và phức tạp. Điều đó đòi hỏi các yêu cầu cao hơn để cải thiện chất lượng nông sản của Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu từ thị trường thế giới. Thứ hai, thị trường Trung Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam.
Tính đến hết năm 2022, Trung Quốc là quốc gia có diện tích lớn và đông dân số nhất trên thế giới. Do đó, đây là một thị trường vô cùng rộng lớn và tiềm năng với nhu cầu nhập khẩu hàng hóa lớn, đặc biệt là hàng hóa nông sản và lương thực. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2022, Trung Quốc đã trở thành một trong những thị trường có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất về hàng nông sản của Việt Nam. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc là thị trường có đòi hỏi ngày càng khắt khe về chất lượng đối với hàng nông sản.
Hệ thống hàng rào phi thuế quan của Trung Quốc khá đa dạng và có xu hướng thay đổi liên tục. Ngoài ra trong năm 2022, Trung Quốc đặt ra các lệnh và quy định mới khắt khe hơn cho hàng nông sản nhập khẩu. Đối với hàng nông sản Việt Nam, nhiều mặt hàng xuất khẩu vào Trung Quốc phải chịu sự ảnh hưởng bởi các biện pháp phi thuế quan, các quy định này tương đối khắt khe về chất lượng, quy trình và phương pháp trồng, thu hoạch, đóng gói. Trung bình, một năm hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc chịu ảnh hưởng của khoảng 15 biện pháp phi thuế.
Trên thực tế, các 2 doanh nghiệp Việt Nam tương đối gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu của các rào cản này. Cụ thể, năm 2020 có 55 lô hàng tôm sú của Việt Nam bị từ chối nhập khẩu vào Trung Quốc. Với thị trường rộng và tiềm năng nhập khẩu cao, lại có thuận lợi về khoảng cách địa lý, Trung Quốc là một thị trường chủ lực đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu về thực trạng và tác động của hàng rào phi thuế quan của Trung Quốc đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Thứ ba, số lượng các hàng rào phi thuế quan được sử dụng khá nhiều, tuy nhiên tác động của các biện pháp này lên dòng thương mại hàng hóa vẫn chưa thực sự được hiểu rõ. Theo số liệu công bố của WTO, trong vòng 3 năm từ 2020 - 2022, các biện pháp SPS được ban hành và sử dụng bởi các thành viên của WTO có sự giảm mạnh từ 1515 biện pháp xuống 300 biện pháp (giảm 80,2 %), trong khi các biện pháp TBT giảm từ 2133 biện pháp xuống 586 biện pháp (giảm 72,5%). Ngoài ra, số lượng áp dụng các biện pháp phi thuế quan còn lại cũng giảm mạnh. Xu hướng này đối lập với giai đoạn trước đó là 2016 - 2018 là SPS tăng 71,8% và TBT tăng 41,4%.
Tuy vậy nhưng hiện nay các biện pháp phi thuế quan vẫn tạo ra nhiều khó khăn cho các quốc gia khi xuất khẩu sang những thị trường khó tính. Tuy nhiên, các nghiên cứu định lượng cũng như định tính liên quan đến rào cản phi thuế quan đưa ra các kết quả không mấy đồng nhất liên quan đến tác động của những biện pháp này lên xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng nông sản nói riêng. Một số các nghiên cứu như Gruber, Ghodsi và Stehrer (2016) cho thấy, các biện pháp SPS và TBT có tác động tiêu cực lên xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, cũng có các nghiên cứu như Jacob Wood, Jie Wu, Jiling Li, JungSuk Kim (2017) cho thấy, trong khi các biện pháp TBT đóng vai trò như rào cản dòng xuất khẩu, các biện pháp SPS có tác động thúc đẩy thương mại thông quan việc nâng cao chất lượng sản phẩm nhập khẩu và mức độ tin cậy của người tiêu dùng.
Hơn nữa, Xiaohua và Larry (2012) cho thấy, các biện pháp TBT có ảnh hưởng thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu thời kỳ trước năm 1988. Có thể thấy, các biện pháp như TBT và SPS sẽ có ảnh hưởng khác nhau lên dòng thương mại, tùy vào đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu. Do đó, việc lượng hóa các tác động của rào cản phi thuế quan lên kim ngạch thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc dựa trên mô hình và phương pháp ước lượng đáng tin cậy là cần thiết. Tứ các lý do được nêu trên, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của các rào cản phi thuế quan đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc” là đề tài nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng mô hình trọng lực cấu trúc cùng với phương pháp ước lượng PPML hướng tới việc lượng hóa các tác động của các biện pháp 3 phi thuế quan lên xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc, từ đó đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp cũng như kiến nghị cho các cơ quan chức năng nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường này.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trong nước 2. Một số nghiên cứu về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản và giải pháp vượt rào cản phi thuế đối với hàng nông sản Các quy định về hàng rào phi thuế quan là những quy định bắt buộc đối với hàng nông sản, thủy sản khi nhập khẩu vào bất kỳ quốc gia nào. Ở Việt Nam, cách hiểu về hàng nông sản vẫn bao gồm cả hàng thủy sản, mặc dù theo WTO, hàng nông sản không bao gồm những mặt hàng thủy sản.
Vì vậy, ở trong nước, một số nghiên cứu khi đề cập đến hàng nông sản bao gồm cả hàng thủy sản, hoặc có những nghiên cứu chỉ đề cập đến hàng thủy sản. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản, thủy sản vào các thị trường như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc. Bên cạnh đó, có những đề tài tập trung nghiên cứu tìm giải pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng nông sản, thủy sản khi xuất khẩu sang thị trường các nước. Điển hình như nghiên cứu của tác giả Phạm Thế Hưng (2020) đề xuất triển khai đồng bộ các giải pháp về khoa học công nghệ, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông, công nghiệp chủ lực giai đoạn 2011-2020.
Đề tài xác định được 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (trong đó có thủy sản, gạo, cà phê, cao su,.) qua 6 chỉ tiêu là: khả năng đóng góp giá trị gia tăng GDP, khả năng chiếm lĩnh thị trường; sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước hợp lý; tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đạt giá trị gia tăng cao trên một đồng vốn tài sản lưu động; và một đồng vốn tài sản cố định. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Đường (2011) đã phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc và đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường này. Năm 2016, tác giả Doãn Kế Bôn cũng đã công bố nghiên cứu về vận dụng những quy định trong Hiệp định SPS của WTO nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam, trong đó có hàng thủy sản, vào thị trường Hoa Kỳ. Ngoài ra, cũng xuất hiện những nghiên cứu thuần túy tập trung vào xuất khẩu nông sản.
Cụ thể, Phạm Thị Xuân Thọ (2010) nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển và thúc đẩy kim ngạch. Vũ Thanh Hương, Vũ Phương Thảo (2011) sử dụng chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện và bộ chỉ số thương mại của Trung tâm Thương mại thế giới (ITC) nhằm đánh giá lợi thế 4 so sánh và thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp giúp Việt Nam nắm bắt cơ hội và thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang các thị trường vùng vịnh (GCC) tiềm năng. Ngô Thị Tuyết Mai (2014) nghiên cứu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Về cơ bản, những nghiên cứu trên đây chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm làm rõ thực trạng những quy định của một số thị trường xuất khẩu đối với hàng nông sản, thủy sản của Việt Nam (trong đó có những quy định về hàng rào phi thuế quan) và đề xuất những giải pháp để vượt qua rào cản phi thuế quan, thúc đẩy xuất khẩu nông sản, thủy sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu định tính chỉ dừng lại ở việc thống kê, mô tả và phân tích số liệu thống kê về thực trạng xuất khẩu của Việt Nam.