Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế nông nghiệp tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí xương sống khi đóng góp tới 82% tổng giá trị sản xuất toàn địa bàn. Với lợi thế tự nhiên vùng ven biển - biên giới, huyện sở hữu hơn 805 ha diện tích canh tác chè với gần 2.000 hộ dân tham gia, đạt sản lượng xuất khẩu năm 2023 là 8.020,5 tấn chè (tăng 957,5 tấn so với năm 2022). Tuy nhiên, trước các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của thị trường quốc tế, công tác quản lý phát triển xuất khẩu nông sản tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về hạ tầng chế biến, chất lượng sản phẩm và tổ chức bộ máy.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển xuất khẩu nông sản dưới góc độ quản lý kinh tế của chính quyền cấp huyện giai đoạn 2021 đến tháng 6 năm 2024. Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp và lộ trình thực thi đến năm 2030, tầm nhìn 2035 nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng chủ lực như chè, cây ăn quả, mía tím và lâm sản chế biến.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý huyện Hải Hà với chuỗi các mặt hàng xuất khẩu trọng điểm; khung thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp từ năm 2021 đến tháng 6 năm 2024 và khảo sát sơ cấp trong tháng 7 và tháng 8 năm 2024. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề án cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chiến lược nâng kim ngạch xuất khẩu nông sản lên mức 10 triệu USD và mở rộng diện tích sản xuất tập trung ứng dụng công nghệ cao lên trên 1.000 ha vào giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình các yếu tố sản xuất Heckscher-Ohlin, chỉ rõ việc địa phương cần tập trung nguồn lực đất đai, khí hậu và thổ nhưỡng vào các ngành hàng có năng suất vượt trội như chè búp và lâm sản. Bên cạnh đó, lý thuyết Chuỗi giá trị của Michael Porter được vận dụng để làm rõ từng mắt xích từ sản xuất, thu gom, chế biến, chứng nhận tiêu chuẩn đến xuất khẩu chính ngạch.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong đề án gồm:

  • Nông sản xuất khẩu: Các sản phẩm có nguồn gốc từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp được trao đổi qua biên giới quốc gia nhằm mục đích thương mại.
  • Phát triển xuất khẩu nông sản cấp huyện: Tập hợp các chính sách, biện pháp quản lý nhà nước của chính quyền cấp huyện nhằm gia tăng quy mô, giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế.
  • Cơ chế quản lý nhà nước địa phương: Hệ thống thẩm quyền, công cụ quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, giám sát do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện triển khai.
  • Năng lực cạnh tranh nông sản: Khả năng đáp ứng các rào cản kỹ thuật, quy chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật và truy xuất nguồn gốc tại các thị trường nhập khẩu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 14 báo cáo chính thức giai đoạn 2021 đến tháng 6 năm 2024 của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Chi cục Thống kê huyện Hải Hà và các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, tỉnh Quảng Ninh.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hai kênh:

  • Khảo sát bằng bảng hỏi với cỡ mẫu 100 đối tượng đại diện cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân trực tiếp tham gia chuỗi sản xuất, xuất khẩu nông sản trên địa bàn huyện trong tháng 7 và tháng 8 năm 2024, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ.
  • Phỏng vấn sâu 5 cán bộ quản lý nhà nước giàu kinh nghiệm gồm 2 cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh và 3 cán bộ chủ chốt của Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện nhằm đảm bảo tính đại diện cho từng tiểu vùng sản xuất và nhóm sản phẩm. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và phân tích tổng hợp được lựa chọn vì giúp phản ánh chân thực các biến động kinh tế qua các năm, đồng thời lượng hóa chính xác mức độ chênh lệch giữa chỉ tiêu kế hoạch đề ra và kết quả thực hiện trong thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô vùng sản xuất tập trung, huyện Hải Hà đã xây dựng được 17 vùng sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi liên kết. Vùng trồng trọt mở rộng từ 6 vùng năm 2021 lên 8 vùng vào năm 2024 với tổng diện tích 1.998 ha. Diện tích lâm nghiệp tập trung giữ vững ở quy mô trên 12.432 ha. Lực lượng lao động thu hút vào lĩnh vực này tăng từ 67.885 người năm 2021 lên 106.885 người năm 2024, cùng với 108 cơ sở và doanh nghiệp trực tiếp hoạt động xuất khẩu.

Thứ hai, về chuyển dịch cơ cấu thị trường, nông sản Hải Hà có mặt tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng chi phối và tăng liên tục từ 43,2% năm 2021 lên 53,2% năm 2024. Ngược lại, tỷ trọng xuất khẩu sang các nước ASEAN có xu hướng thu hẹp từ 25,4% xuống còn 16,5%. Thị trường Hoa Kỳ giữ ổn định ở mức 11,3%, Đài Loan đạt 5,4% và Australia chiếm 5,0%.

Thứ ba, về mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2021-2023, kết quả thực hiện hầu hết chưa đạt mức kỳ vọng. Năm 2023, tổng sản lượng nông sản xuất khẩu thực hiện chỉ đạt 98,45% kế hoạch giao; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 98,08% kế hoạch. Số lượng thị trường xuất khẩu mở rộng mới đạt 12 trong tổng số 14 quốc gia dự kiến (tương đương 85,71%). Đến hết tháng 6 năm 2024, sản lượng xuất khẩu đạt 48,23% chỉ tiêu năm.

Thứ tư, về các chính sách hỗ trợ, năm 2023 Ủy ban nhân dân huyện đã giải ngân 4.660 triệu đồng từ ngân sách nhà nước hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kết hợp 2.549 triệu đồng vốn đối ứng từ người dân (tổng kinh phí 7.209 triệu đồng). Huyện cũng đã hỗ trợ 100% trong tổng số 34 trường hợp vướng mắc thủ tục của doanh nghiệp và xử lý dứt điểm 19 đơn thư khiếu nại liên quan đến quy trình kiểm soát hải quan.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu thị trường và bảng so sánh tăng trưởng, có thể thấy hoạt động xuất khẩu của Hải Hà phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc, tiềm ẩn nhiều rủi ro khi có sự thay đổi về chính sách biên mậu. Sản phẩm chè tuy có diện tích lớn với hơn 74% giống mới nhưng diện tích đạt chứng nhận VietGAP mới dừng lại ở mức 38,8 ha, làm giảm sức cạnh tranh tại các thị trường cao cấp như Hoa Kỳ hay châu Âu.

So sánh với bài học quản lý của huyện Tiên Yên (Quảng Ninh) trong việc thành lập Ban Giám sát chuyên trách xuất nhập khẩu và huyện An Dương (Hải Phòng) về ứng dụng phần mềm tin học hóa quản lý chuỗi cung ứng, huyện Hải Hà còn thiếu sự phối hợp liên ngành nhịp nhàng. Nguyên nhân cốt lõi là do công tác dự báo kế hoạch chưa bám sát biến động thị trường thực tế, nguồn ngân sách hỗ trợ xúc tiến thương mại còn eo hẹp (chỉ đạt 515 triệu đồng qua 11 sự kiện trong giai đoạn 2021 đến tháng 6 năm 2024) và đội ngũ cán bộ chuyên trách còn thiếu kiến thức sâu về thương mại quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu và nâng cao chất lượng sản phẩm:

  • Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mở rộng diện tích vùng trồng chè tập trung chất lượng cao đạt 1.000 ha với 2.200 hộ dân tham gia vào năm 2030, nâng sản lượng chè búp tươi đạt 13.300 tấn/năm.
  • Chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn bản địa (lim, giổi, lát hoa) để nâng tỷ lệ khai thác gỗ lớn từ 30-40% hiện nay lên 50-60% giai đoạn 2025-2030.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chế biến sâu:

  • Phòng Kinh tế - Hạ tầng phối hợp Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp hỗ trợ phát triển trên 60 mô hình nông trại thông minh và 21 ha trồng nấm công nghệ cao đến năm 2028.
  • Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cải tạo nhà xưởng, chuyển giao quy trình sấy lạnh, công nghệ màng bọc sinh học chitosan để tăng giá trị bảo quản sau thu hoạch thêm 25-30%.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường và mở rộng xúc tiến thương mại:

  • Trung tâm Xúc tiến Đầu tư huyện phối hợp Chi cục Hải quan tổ chức tối thiểu 3 đến 4 hội chợ thương mại quốc tế mỗi năm, từng bước giảm tỷ trọng thị trường đơn lẻ xuống dưới 45% vào năm 2030.
  • Thiết lập hệ thống thông tin cảnh báo sớm về các rào cản kỹ thuật SPS và TBT của các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, Trung Đông và EU.

Thứ tư, đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát:

  • Tái cơ cấu tổ chức quản lý theo hướng thành lập Tổ giám sát liên ngành về xuất nhập khẩu nông sản ngay trong năm 2025.
  • Triển khai phần mềm số hóa truy xuất nguồn gốc cho 100% mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu trên địa bàn huyện đến năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và chuyên viên cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - Hạ tầng có thể sử dụng khung quy trình xây dựng kế hoạch và mô hình quản lý 4 bước được chuẩn hóa trong đề án để áp dụng trực tiếp tại địa phương.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất và xuất khẩu nông sản: Các đơn vị kinh doanh chè, mía đường, lâm sản có được bức tranh chi tiết về cơ cấu thị trường, các chính sách hỗ trợ tài chính từ Nghị quyết Hội đồng nhân dân và định hướng chuyển đổi sang tiêu chuẩn VietGAP.
  • Hộ nông dân và chủ trang trại quy mô lớn: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về các giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao (RVT, ST25, na Đài Loan, chè Ngọc Thúy) và phương thức liên kết chuỗi với doanh nghiệp bao tiêu.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Kinh tế: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu thực chứng cấp huyện, hệ thống tiêu chí đánh giá xuất khẩu và bộ công cụ khảo sát định lượng trong quản trị công.

Câu hỏi thường gặp

Mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của huyện Hải Hà hiện nay là gì? Sản phẩm chủ lực nhất là chè Hải Hà với diện tích canh tác hơn 805 ha, sản lượng xuất khẩu năm 2023 đạt 8.020,5 tấn. Bên cạnh đó, huyện còn xuất khẩu lâm sản gỗ với diện tích rừng nguyên liệu trên 12.432 ha và các sản phẩm củ quả sấy khô.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu nông sản Hải Hà có đặc điểm gì nổi bật? Thị trường có sự phân hóa mạnh với hơn 52% thị phần xuất khẩu tập trung sang Trung Quốc, khu vực ASEAN chiếm 16,4%, Hoa Kỳ chiếm khoảng 10,5% đến 11,3%, phần còn lại chia đều cho Đài Loan, Australia và Ấn Độ.

Tại sao kết quả thực hiện kế hoạch xuất khẩu năm 2023 của huyện chưa đạt 100%? Năm 2023 sản lượng chỉ đạt 98,45% và kim ngạch đạt 98,08% kế hoạch do công tác lập dự báo chưa sát thực tế sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng suy thoái kinh tế hậu Covid-19 và rào cản kỹ thuật gia tăng từ phía nhà nhập khẩu.

Huyện Hải Hà đặt mục tiêu xuất khẩu nông sản như thế nào đến năm 2030 và 2035? Đến năm 2030 huyện phấn đấu tăng 20% sản lượng và 15% kim ngạch xuất khẩu; đến năm 2035 hướng tới đạt mốc kim ngạch 10 triệu USD, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 1.390 tỷ đồng.

Nông dân và doanh nghiệp Hải Hà nhận được hỗ trợ tài chính gì từ chính quyền? Theo Nghị quyết 03/2023/NQ-HĐND, năm 2023 huyện đã hỗ trợ 4.660 triệu đồng từ ngân sách nhà nước chi trả 100% kinh phí giống, hỗ trợ thuốc bảo vệ thực vật, tập huấn kỹ thuật và thông tin thị trường cho người dân.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết quản lý nhà nước về phát triển xuất khẩu nông sản áp dụng cho địa bàn cấp huyện đặc thù.
  • Khắc họa chi tiết bức tranh xuất khẩu nông sản huyện Hải Hà giai đoạn 2021 đến tháng 6 năm 2024 với 17 vùng sản xuất tập trung và hơn 8.000 tấn chè xuất khẩu mỗi năm.
  • Chỉ rõ những tồn tại về mức độ bám sát kế hoạch (chỉ đạt hơn 98% năm 2023) và sự phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc (chiếm trên 52%).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, gắn chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 đạt 1.000 ha chè chất lượng cao và kim ngạch 10 triệu USD vào năm 2035.
  • Phân định rõ trách nhiệm thực thi giữa các phòng ban chuyên môn, Ủy ban nhân dân huyện và các hiệp hội doanh nghiệp địa phương.

Kết quả nghiên cứu của đề án là nguồn tài liệu hữu ích cho công tác quản lý điều hành kinh tế tại Quảng Ninh. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các đề xuất để chuyển hóa tiềm năng nông nghiệp địa phương thành giá trị kim ngạch bền vững trong giai đoạn hội nhập mới.