chương 1 đã nêu được tổng quan về mục đích nghiên cứu và đồng thời nêu phương pháp sẽ sử dụng để thực hiện và phân tích các tác động đến đối tượng nghiên cứu. Trong chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng về năng tố tác động đến năng suất; các lý thuyết phân tích về yếu tố ảnh hưởng đến TFP của doanh nghiệp; lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa xuất khẩu và năng suất và trình bày những nghiên cứu đã áp dụng đến các lý thuyết đã nêu để tiếp cận và giải quyết vấn đề. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2 trình bày những cơ sở lý thuyết nền tảng để hỗ trợ cho những phân tích trong bài nghiên cứu, những lý thuyết được sử dụng là lý thuyết về năng suất tổng hợp và nhân tố tác động đến năng suất, lý thuyết phân tích về yếu tố ảnh hưởng đến TFP của doanh nghiệp được dùng để phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến năng suất nhân tố tổng hợp, lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa xuất khẩu và năng suất dùng lý thuyết cơ chế tự lựa chọn (self selection) và lý thuyết học hỏi thông qua xuất khẩu để giải thích những khó khăn và những điều kiện cần thiết của doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường xuất khẩu, đồng thời chứng minh vài trò của lý thuyết đối với việc phân tích. Trong chương này cũng đề cập đến những nghiên cứu trước đã thực hiện tại các quốc gia khác nhau để làm rõ hơn những tác động của lý thuyết đã đề cập đến.
Khái niệm về thương mại quốc tế, vai trò xuất khẩu trong thương mại quốc tế 2.1 Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế (TMQT) hay còn gọi là hoạt động xuất, nhập khẩu là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế. Trao đổi hàng hóa là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của một quốc gia. TMQT là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế làm giàu cho đất nước (Krugman và ctg, 2011). TMQT là một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế.2 Vai trò xuất khẩu trong các lý thuyết thương mại quốc tế: Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong các lý thuyết thương mại quốc tế.
Lý thuyết Daviad Ricardo (1817) về lợi thế so sánh của các quốc gia cho thấy sự khác 6 biệt về sản phẩm là yếu tố quyết định thương mại. Mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà mình có lợi thế tương đối. Lợi thế tương đối trong sản xuất sản phẩm của một quốc gia thể hiện hiệu quả sản xuất cao tương đối hay giá cả sản xuất thấp hơn tương đối so với quốc gia kia. Nhờ vậy, lợi thế từ chuyên môn hóa được khai thác triệt để hơn sẽ giúp các ngành xuất khẩu khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô, tăng năng suất và giảm chi phí, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng xuất khẩu.
Lý thuyết Hecksher -Ohlin (H-O) cho rằng các nước xuất khẩu hàng hóa sản xuất hàng hóa thâm dụng nhân tố sản xuất có lợi thế. Lý thuyết H-O bỏ quan sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia, có nghĩa là ngay cả khi năng suất lao động giống hệt nhau giữa hai nước, sẽ có khả năng cạnh tranh. Các nước sẽ có lợi khi sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu tố mà nước đó dư thừa tương đối, và nhập khẩu hàng hóa thâm dụng yếu tố mà nước đó khan hiếm tương đối. Trong các nghiên cứu thực nghiệm theo lý thuyết giai đoạn này, xuất khẩu đã được đưa vào hàm sản xuất thông qua TFP.
Họ cho rằng, xuất khẩu tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng năng suất. Helpman và Krugman (1985) cho rằng sự tăng trưởng xuất khẩu có thể làm tăng năng suất, sự tăng năng suất này là nhờ hiệu quả kinh tế theo qui mô. Herzer và các cộng sự (2006) cho rằng mở rộng xuất khẩu có thể khuyến khích chuyên môn hóa trong lĩnh vực mà một quốc gia có lợi thế so sánh và dẫn tới tái phân bổ các nguồn lực từ các ngành phi thương mại không hiệu quả sang các ngành xuất khẩu hiệu quả hơn. Lý thuyết tăng trưởng mới của Romer và Lucas nhấn mạnh đến hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), phổ biến tri thức và ngoại ứng tích cực từ vốn nhân lực đến tăng trưởng kinh tế.
Các mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời đã giúp khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển khi giải thích được quá trình thay đổi về công nghệ/năng suất bằng chính các tham số trong mô hình. Tác động của xuất khẩu tới năng suất cũng được làm rõ trong các lý thuyết này. Theo đó, xuất khẩu tác động đến TFP thông qua tích lũy kiến thức, ý tưởng, cải tiến, tích lũy vốn con người và những 7 ảnh hưởng ngoại ứng khác – những yếu tố nội sinh duy trì tăng trưởng dài hạn. Hoạt động xuất khẩu, theo một cách khác biệt, đã tạo ra những ngoại ứng công nghệ tích cực đối với toàn bộ nền kinh tế.
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng, trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, các nền kinh tế đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao đều được hưởng lợi từ chuyển giao công nghệ từ các nước đang phát triển. Nhờ tác động lan tỏa, xuất khẩu giúp các nền kinh tế mở tiếp cận rộng rãi hơn với kiến thức công nghệ, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu phát triển, làm tăng năng suất các doanh nghiệp. Khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và các phương pháp tính TFP: 2.1 Khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Theo Coelli và cộng sự (2005) thì năng suất được định nghĩa là “sản lượng sản xuất đạt được bao nhiêu từ các đầu vào cho trước”. Nếu ta đo lường sản lượng trên một đơn vị đầu vào (vốn hoặc lao động) thì ta có chỉ tiêu năng suất lao động hoặc là năng suất vốn.
Khi kết hợp tất cả các đầu vào để tính toán sản lượng sản xuất thì ta có chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity viết tắt là TFP). Khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) được phát triển đầu tiên là do Tinbergen (1942). Tuy nhiên, định nghĩa về TFP được biết đến nhiều nhất là của Solow (1957). Theo Solow (1957) thì TFP là trình độ công nghệ hay là kiến thức công nghệ.
Mô hình tăng trưởng cổ điển của Solow (1957) được thể hiện như sau: Y = A(t) x F(K,L) Trong đó: -Y là sản lượng của doanh nghiệp; -K là vốn đầu vào; -L là lao động đầu vào; -A(t) là trình độ công nghệ hay là TFP và A(t) là hàm theo thời gian. TFP là tỷ số của số lượng tất cả các đầu ra với số lượng tất cả đầu vào. TFP đo lường quan hệ giữa đầu ra với mức kết hợp hai hay nhiều các đầu vào (thường là lao 8 động và vốn). TFP còn thể hiện một phần của đầu ra còn lại không giải thích được sự đóng góp trong các yếu tố đầu vào.
Cụ thể, TFP đo lường đóng góp cho đầu ra của nền kinh tế vượt ra ngoài đóng góp bởi số lượng lao động, máy móc và vốn sử dụng. Như vậy, TFP phản ánh tiến độ khoa học, công nghệ và kỹ thuật, giáo dục và đào tạo, qua đó tăng thêm đầu ra phụ thuộc vào gia tăng về số lượng và chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động. Tăng TFP gắn liền với ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, cải tiến phương thức quản lý, đổi mới công nghệ vào nâng cao kỹ thuật trình độ tay nghề của người lao động. Nếu cải tiến chất lượng của vốn, lao động và sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn thì lượng đầu ra có thể lớn hơn với cùng một lượng đầu vào như nhau.
Các phương pháp tính năng suất tổng hợp (TFP) * Theo vĩ mô Theo cơ sở lý thuyết, một nền kinh tế đạt được tăng trưởng chủ yếu dựa vào 3 nhân tố chính: vốn (K), lao động (L), và năng suất tổng hợp (TFP). Do đó, mô hình hoạt toán các nguồn lực tăng trưởng kinh tế bắt đầu bằng hàm sản suất dạng Cobb- Douglass: GDP = TFP x F (L,K) (1) Theo mô hình này tăng trưởng kinh tế được chia làm 2 loại: tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng phản ánh sự gia tăng thu nhập phụ thuộc vào tăng số lượng lao động, quy mô nguồn vốn và lượng tài nguyên được khai thác và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là sự gia tăng thu nhập do tác động của yếu tố TFP. TFP phản ánh sự gia tăng chất lượng máy móc, chất lượng lao động, vai trò của tổ chức và quản lý sản xuất.
TFP phụ thộc 2 yếu tố: tiến bộ công nghệ và hiệu quả sử dụng lao động, vốn. Giả thuyết rằng hàm sản xuất dạng Cobb-Douglass là hàm số liên tục theo thời gian (t) và được biểu diễn dưới dạng đạo hàm riên theo t như sau: 9 𝑑𝐺𝐷𝑃 𝑑𝑇𝐹𝑃 𝑑𝐹 𝑑𝑇𝐹𝑃 𝜕𝐹 𝑑𝐿 = = 𝐹 (𝐿, 𝐾) + 𝑇𝐹𝑃 = = 𝐹 (𝐿, 𝐾) + 𝑇𝐹𝑃 + 𝑑𝑡 𝑑𝑡 𝑑𝑡 𝑑𝑡 𝜕𝐿 𝑑𝑡 𝜕𝐹 𝑑𝐾 𝑇𝐹𝑃 (2) 𝜕𝐾 𝑑𝑡 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝜕𝐹 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝜕𝐹 Do: = 𝑇𝐹𝑃 𝑣à = 𝑇𝐹𝑃 𝜕𝑡 𝜕𝐿 𝜕𝑡 𝜕𝐾 nên phương trình (2) bây giờ có dạng sau: 𝑑𝐺𝐷𝑃 𝑑𝑇𝐹𝑃 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝑑𝐿 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝑑𝐾 = 𝐹 (𝐿, 𝐾) + + (3) 𝑑𝑡 𝑑𝑡 𝜕𝐿 𝑑𝑡 𝜕𝐾 𝑑𝑡 Chia hai vế của phương trình (3) cho GDP và sau phép biến đổi ta có 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝜕𝐺𝐷𝑃 𝑑𝐺𝐷𝑃 1 𝑑𝑇𝐹𝑃 1 𝐺𝐷𝑃 𝑑𝐿 1 𝐺𝐷𝑃 𝑑𝐾 1 = +( 𝜕𝐿 ) +( 𝜕𝐾 ) (4) 𝑑𝑡 𝐺𝐷𝑃 𝑑𝑡 𝑇𝐹𝑃 𝑑𝑡 𝐿 𝑑𝑡 𝐾 𝐿 𝐾 𝜕𝐺𝐷𝑃/𝐺𝐷𝑃 𝜕𝐺𝐷𝑃/𝐺𝐷𝑃 𝜆𝐾 Gọi α = 𝑣à 1 − α = = 𝜕𝐿/𝐿 𝜕𝐾/𝐾 𝐺𝐷𝑃 Dưới dạng rút gọn của (4), với giả thiết hiệu suất không đổi theo quy mô, ta có: G(GDP) = G(TFP) + αG(L) + (1-α)G(K) (5) Trong đó: G(GDP): Tốc độ tăng của sản lượng. G(TFP): Tốc độ tăng của năng suất nhân tố tổng hợp. G(L): Tốc độ tăng của lao động.
G(K): Tốc độ tăng của vốn.