Mở đầu - Chương 2:Tổng quan các nghiên cứu trước đây - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu - Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và gợi ý 5 CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Nghiên cứu: “Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc: Bằng chứng từ các lĩnh vực được phân tách (The Contribution of Foreign Direct Investment to China’s Export Performance: Evidence from Disaggregated Sectors) của Yan Yuan (2008) Nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu thực nghiệm là một trong những lý thuyết thương mại dựa trên lý thuyết của (HO) Heckscher-Ohlin, những lý thuyết thương mại mới và lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Liu and Shu, 2003).Theo lý thuyết HO, một đất nước nên xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố mà đất nước được trợ cấp, hoặc là xuất khẩu những sản phẩm mà đất nước đó có lợi thế, trong đó có lợi thế so sánh trong cả sản xuất và xuất khẩu. Đối với các lý thuyết thương mại mới, họ bổ sung xem xét cạnh tranh không hoàn hảo, quy mô kinh tế và chi phí thương mại mà sau đó trở thành những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Markusen và Venables (1998) đưa biến FDI vào các mô hình cân bằng thương mại quốc tế do sự toàn cầu hóa nhanh chóng. Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã nhấn mạnh vai trò của sự đổi mới và kết quả là những tính chất công nghệ của một ngành công nghiệp được coi là một yếu tố quan trọng để tăng hiệu suất của xuất khẩu (Liu and Shu, 2003).
6 Mô hình nghiên cứu ln(EXPi,t) = β0 + β1* ln(FDIi,t) + β2* ln(EXRi,t) + β3* ln(DIi,t)+ β4* ln(GSPi,t) + β5* ln(FSi,t) + β6* ln(RDi,t)+ β7* ln(WAGEi,t) + β8* ln(WDi,t) + εi,t - EXP: Tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc - FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài - EXR: Tỷ giá hối đoái được đo bằng tổng giá trị thu đổi ngoại tệ của Trung Quốc - DI (domestic investment): Đầu tư trong nước được tổng hợp hàng năm dựa vào tỷ lệ chi phí vốn đầu tư. - GSP (gross sectoral product): Tổng sản phẩm ngành phổ cập (GSP) có thể là một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu. Nó tương tự GDP ngoại trừ việc nó cho thấy năng suất của một ngành công nghiệp cụ thể.Nó đã làm rõ được hiệu quả kinh tế và năng suất của từng ngành được nghiên cứu. GSP dự kiến sẽ liên quan tích cực với kim ngạch xuất khẩu.
- FS (firm size): Đại diện cho quy mô doanh nghiệp của nền kinh tế và được đo bằng sản lượng thực tế trung bình cho mỗi công ty. - RD (research and development for innovation): Nghiên cứu và phát triển sản phẩm được đo bằng số bằng sáng chế của được cấp trong một năm. - WAGE: Đại lượng biểu diễn cho chi phí lao động,được định lượng bằng lương thực tế bình quân của nhân viên trong một năm. 7 - WD (world demand): Viết tắt của nhu cầu thế giới, đó là tổng nhập khẩu trên thế giới (trừ Trung Quốc) cho từng mặt hàng /ngành công nghiệp.
Kết quả thực nghiệm: Đối với tất cả các lĩnh vực, quy mô doanh nghiệp, chi phí lao động và tỷ giá là không hoàn toàn khác không về mặt thống kê, thậm chí ở mức ý nghĩa 10%.Điều này cho thấyquy mô doanh nghiệp không phải là một yếu tố quyết định trong việc thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc.Kết luận này phù hợp với những gì Katsikeas et al.Tỷ giá cũng không phải là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc.Điều này có thể là do một vài yếu tố. Đầu tiên, do đặc điểm của dữ liệu là theo năm, biến động tỷ giá trong ngắn hạn có thể không được quan sát. Thứ hai, mặc dù Trung Quốc đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt hơn trong thời gian gần đây nhưng nó vẫn còn tương đối cố định trong một thời gian dài. Chi phí nhân công không giúp tăng cường hoạt động xuất khẩu.
Điều này có thể là do chi phí lao động đã rất thấp của Trung Quốc. Đáng lưu ý rằng nhu cầu thế giới có ý nghĩa ở mức 1%. Nếu nhu cầu thế giới tăng 10 phần trăm, xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tăng 8,8 phần trăm trong các ngành công nghiệp sản xuất. Nó chỉ ra các lĩnh vực này là rất phụ thuộc vào nhu cầu thế giới và có thể bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự biến động nhu cầu thế giới.
Đầu tư trong nước có thể đẩy mạnh xuất khẩu của Trung Quốc, và điều này là phù hợp với những nghiên cứu trước đây (Coughlin và Fabel, 1988; Erickson và Hayward, 1992; Zhang và Song, 2000).Đầu tư trong nước có 8 thể giúp củng cố cơ sơ hạ tầng và đẩy mạnh năng lực sản xuất, do đó có thể giúp công ty đẩy mạnh xuất khẩu. Nghiên cứu và phát triển không góp phần đẩy mạnh xuất khẩu ở mức ý nghĩa 5%, và điều này là phù hợp với nghiên cứu của Liu và Shu (2003). Điều này phản ánh rằng những sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc là những sản phẩm thâm dụng lao động nhưng không đòi hỏi nhiều vốn và những kỹ thuật tiên tiến. Liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, 4 ngành trong tổng số 14 ngành nghiên cứu có sự ảnh hưởng mạnh cùng chiều ở mức ý nghĩa 1% và 4 ngành khác cũng có sự ảnh hưởng cùng chiều ở mức ý nghĩa 10%.
Xuất khẩu các thiết bị điện tử có sự ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đó là các ngành sản xuất giấy và các sản phẩm liên quan đến giấy.Kết quả này cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng những vai trò chiến lược khác nhau trong từng ngành khác nhau.Đầu tư trực tiếp nước ngoài có chiến lược hướng đến việc sản xuất những sản phẩm mà có thể tận dụng nguồn tài nguyên dồi dào và lương nhân công thấp ở Trung Quốc, sau đó xuất khẩu chúng sang các thị trường lân cận.2 Nghiên cứu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và xuất khẩu- Những kinh nghiệm của Việt Nam” (“Foreign direct investment and exports – The experiences of VietNam”) – Nguyen Thanh Xuan and Yuqing Xing -2008. Bài nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra tình trạng thực thi của 5919 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được phê duyệt bởi Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư từ năm 1988 và từ đó tạo ra một dữ liệu của những khoản đầu tư đã thực sự giải ngân vốn vào Việt Nam. Dữ liệu này bao gồm các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 23 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004. Sử dụng dữ liệu này, tác giả đã tiến hành phân tích sự ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giá trị xuất khẩu của Việt Nam thông qua mô hình lực hấp dẫn (“Gravity Model”).
Mô hình nghiên cứu: ln(EXVjt) = β0 + β1* ln(YVt) + β2* ln(Yjt) + β3* ln(FDIjV(t-1))+ β4*REVjt + β5* dVj + β6*θ+ β7* FTAA + β8* FTAUS + εVjt Trong đó: - YVt : tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam - Yjt: tổng sản phẩm quốc nội của nước i đầu tư vào Việt Nam - EXVji : giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước j - FDIjV: đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước j vào Việt Nam. - REVjt: tỷ giá giữa Việt Nam đồng và tiền tệ của nước đối tác j - dVj: khoảng cách giữa Việt Nam và các nước đối tác j (tính bằng khoảng cách giữa thủ đô của hai nước). 10 - θ : biến giả dùng để đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố biên giới. Giá trị bằng 1 nếu nước đối tác và Việt Nam có cùng chung biên giới, còn lại là bằng 0.
- FTAA : biến giả đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố ký kết Hiệp Định Thương Mai Tự Do (“Free Trade Aggreement”- FTA) giữa Việt Nam và các nước Asean. Giá trị bằng 1 sau khi Việt Nam tham gia FTA, còn lại là bằng 0 - FTAUS : biến giả đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố ký kết Hiệp Định Thương Mai Tự Do (“Free Trade Aggreement”- FTA) giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Giá trị bằng 1 sau khi Việt Nam tham gia FTA, còn lại là bằng 0. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự ảnh hưởng đáng kể đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước đầu tư.
Sự tăng trưởng 1% của FDI có thể dẫn đến 0.13% tăng trưởng đối với giá trị xuất khẩu đến các nước cung cấp đầu tư. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy sự mất giá của tiền Việt Nam đồng đối với tiền tệ của các nước đầu tư cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Đáng lưu ý hơn cả là độ co giãn (“elasticity”) của giá trị xuất khẩu và tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam là 3. Điều này cho thấy năng lực xuất khẩu và tính cạnh tranh ngày càng tăng của hàng hóa Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu.
11 Tác giả không đưa ra kết luận rõ ràng về việc ký kết Hiệp Định Thương Mại Tự Do với các nước ASEAN có phải là yếu tố đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam hay không; nhưng ngược lại nghiên cứu đã cho thấy việc ký kết Hiệp Định Thương Mại Tự Do với Hoa Kỳ đã thực sự góp phần vào sự tăng trưởng của giá trị xuất khẩu của Việt Nam qua các năm.3 Mô hình OLI của John Dunning (1977) Hầu hết các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xoay quanh lí thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế, mô hình OLI của John Dunning (1977).Học thuyết này kế thừa rất nhiều những ưu điểm của các học thuyết khác về FDI. Dunning đã tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau lý giải về FDI và đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp: lợi thế về sở hữu, địa điểm và nội bộ hóa.Cách tiếp cận này được biết đến dưới tên mô hình OLI.Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận. Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ phát triển, môi trường văn hóa, pháp luật chính trị và thể chế.