Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài tới việc làm Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động tới vấn đề việc làm ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm của Việt Nam Luan van 7 1. CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỚI VIỆC LÀM 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Thuật ngữ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI) đã được nhiều tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)… định nghĩa, nhằm thực hiện đo lường quy mô dòng vốn đầu tư này tới các quốc gia trên thế giới.8), hướng dẫn kế toán cán cân thanh toán, định nghĩa “đầu tư trực tiếp là mội loại hình đầu tư xuyên biên giới gắn liền với một dân cư trong một nền kinh tế nhằm kiểm soát hoặc có mức độ ảnh hưởng nhất định tới việc quản lý một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.” IMF phân tách định nghĩa này thành hai cấu phần chính xác định một nguồn vốn là FDI, bao gồm: (i) nhà đầu tư nước ngoài (IMF 2010, tr.11) và (ii) quyền kiểm soát (IMF 2010, tr.
“Nhà đầu tư trực tiếp là một thực thể hoặc tập đoàn có thể thực hiện kiểm soát hoặc có ảnh hưởng nhất định tới một thực thể khác đặt tại một nền kinh tế khác. Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là một thành phần của nền kinh tế - đối tượng chịu kiểm soát hoặc chịu mức độ ảnh hưởng nhất định bởi nhà đầu tư trực tiếp” (IMF 2010, tr. Trong khi đó, “quyền kiểm soát hoặc sự ảnh hưỏng có được một cách trực tiếp thông qua sở hữu cổ phần có quyền biểu quyết trong công ty, hoặc gián tiếp thông qua quyền biểu quyết ở một công ty khác mà có quyền biểu quyết trong công ty đó” (IMF 2010, tr. Dòng vốn FDI tạo ra quyền kiểm soát trực tiếp, vì vậy chúng cần “có mối quan hệ đầu tư trực tiếp” (IMF 2010, tr.12a) theo đó, “nhà đầu tư trực tiếp phải trực tiếp sở hữu số cổ phần tương ứng với 10% hoặc nhiều hơn quyền biểu quyết trong doanh nghiệp đầu tư trực tiếp” (ibid.
Nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát được doanh nghiệp nếu nhà đầu tư sở hữu tỷ lệ biểu quyết trên 50%, trong khi đó, có sự ảnh hưởng với tỷ lệ này từ 10-50% (ibid. 24-5) sử dụng định nghĩa này cũng nhằm áp Luan van 8 dụng các tiêu chuẩn thống kê tài khoản vốn FDI cho các nước khác nhau bao gồm ba tài khoản: (i) tổng vốn đầu tư, (ii) giao dịch tài chính và (iii) dòng thu nhập có liên quan sử dụng để tái đầu tư: “i) Tổng số vốn đầu tư trực tiếp (giá trị tích lũy của đầu tư), cung cấp thông tin về tổng giá trị tích lũy đầu tư vào trong nước và ra nước ngoài… Số liệu tổng FDI cho phép phân tích cấu trúc vốn đầu tư ở nước tiếp nhận hoặc trong các ngành” …; “ii) Giao dịch tài chính đầu tư trực tiếp cho biết giá trị ròng các dòng vốn đầu tư vào và ra với tài sản và nợ được phân tách theo công cụ tài chính (cổ phần, cho vay) tại một khoảng thời gian tham chiếu (năm, quý, tháng). Dòng vốn vào FDI cung cấp một chỉ số hữu dụng trong tương quan về mức độ hấp dẫn của nền kinh tế, tuy nhiên, cách hiểu này cũng cần thêm những thông tin bổ sung để đưa ra những kết luận xác đáng; iii) Thu nhập đầu tư nước ngoài cung cấp thông tin về các khoản lợi tức của nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đầu tư trực tiếp. Lợi tức từ đầu tư trực tiếp tăng lên từ a) cổ phần, ví dụ lợi nhuận doanh nghiệp tạo ra trong một khoảng thời gian và bao gồm lợi tức được phân phối (cổ tức) và lợi tức chưa được phân phối, được sử dụng như những khoản tái đầu tư trong doanh nghiệp đó; và b) từ các khoản nợ (ví dụ lãi suất từ các khoản vay, tín dụng thương mại và các loại hình nợ khác).35) cho rằng “FDI có thể được định nghĩa là một khoản đầu tư từ một thực thể của một nền kinh tế tới một nền kinh tế khác và có tính chất dài hạn hay mối quan tâm lâu dài.” UNCTAD (2009) cũng nhấn mạnh tới hai nhân tố thiết yếu khi đưa ra định nghĩa về FDI trong sự khác biệt với đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đó là (i) tính di cư quốc tế của vốn và (ii) có quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định tới một doanh nghiệp của nước tiếp nhận vốn.
Ở Việt Nam, nghiên cứu tập trung tìm hiểu các quy định về FDI trong Luật Đầu tư 2005 do giai đoạn 2011-2015, Việt Nam áp dụng các điều khoản trong Luật này; Luật Đầu tư 2014 chỉ được thi hành từ 01/07/2015. Luật Đầu tư năm 2005 không đưa ra định nghĩa về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” nhưng đưa ra định nghĩa về “Đầu tư trực tiếp” và “Nhà đầu tư nước ngoài”. Điều 3 Luật Đầu tư định nghĩa: Luan van 9 “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.” Nghiên cứu tiếp cận theo cách định nghĩa của Luật Đầu tư 2005, do đây là cơ sở để Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống kê vốn FDI và khảo sát các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam. Một cách khái quát, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư nước này đưa vốn sang nước khác để tiến hành các hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Đặc điểm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Dựa vào những định nghĩa đã nêu, có thể thấy FDI có những đặc điểm riêng, khác với các loại hình đầu tư như: đầu tư trong nước, đầu tư gián tiếp nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức. Nguyễn Thị Hường (2002) tổng kết lại những đặc điểm khác biệt đó, bao gồm: - Có sự dịch chuyển tài sản trong phạm vi quốc tế, từ quốc gia này tới quốc gia khác. Đó có thể là tài sản hữu hình (tiền, công nghệ, thiết bị.) hoặc tài sản vô hình (bí quyết kinh doanh, bằng sáng chế…). Việc đầu tư công nghệ, kỹ thuật sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm – một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu và vốn pháp định tùy theo quy định của từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư. - Chủ đầu tư trực tiếp sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư. - Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước sở tại, trong khi đó, hoạt động hỗ trợ phát triển chính thức thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài. Về phân loại FDI, OECD (2008, tr.20) đưa ra hai hình thức FDI chủ yếu là đầu tư mới (Greenfield Investment – GI) và mua bán và sát nhập qua biên giới (Cross-border Merger and Acquisition – M&A.) Luan van 10 Tại Việt Nam, theo điều 21 Luật Đầu tư 2005, FDI có các hình thức sau đây: “- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, và hợp đồng BT. - Đầu tư phát triển kinh doanh. - Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp. - Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.” FDI cũng có thể được phân chia thành các hình thức khác dựa vào những tiêu chí khác nhau: - Theo tính chất dòng vốn, có các hình thức: Vốn chứng khoán, giao dịch tài chính, vốn tái đầu tư (OECD, 2008). Theo cơ cấu kinh tế, có các hình thức: FDI vào nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù trong Luật Đầu tư 2005, loại hình góp vốn, mua cổ phần được tính là loại hình đầu tư FDI, tuy nhiên trong các thống kê giai đoạn 2011-2014 của Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số liệu vĩ mô về dòng vốn FDI chỉ được phân chia thành (i) đăng ký cấp mới và (ii) đăng ký tăng thêm; cùng với đó là thống kê bốn loại hình đầu của hoạt động doanh nghiệp FDI trong Điều 21, Luật Đầu tư 2005.
Điều này khiến số liệu vĩ mô Việt Nam về FDI có thể thấp hơn so với thực tế. Từ năm 2015, Tổng cục Thống kê đã bổ sung thêm loại hình góp vốn, mua cổ phần, chiếm hơn 20% tổng vốn FDI vào Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2018). Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tới nƣớc tiếp nhận vốn Tác động của FDI tới nước tiếp nhận vốn có cả mặt tích cực và tiêu cực. Trong phần này, nghiên cứu tổng hợp lại các tác động của FDI tới nước tiếp nhận vốn trên phương diện: (i) nguồn lực phát triển kinh tế, (ii) cán cân thanh toán và Luan van 11 thương mại quốc tế, và (iii) cạnh tranh.
Riêng tác động của FDI tới quy mô việc làm sẽ được đi sâu phân tích về lý thuyết và thực nghiệm trong phần 1. Tác động tới nguồn lực phát triển kinh tế Theo Kurtishi-Kastrati (2013), hiệu ứng nguồn lực của FDI có thể coi là hiệu ứng chuyển giao tới nền kinh tế, bao gồm các hiệu ứng về vốn, công nghệ và năng lực quản lý. Về vốn, các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) đầu tư các dự án dài hạn, chấp nhận rủi ro và tạo ra lợi nhuận khi các dự án này có tỷ suất lợi tức hợp lý. Nhiều nhà kinh tế học ủng hộ chính sách tự do hóa các dòng vốn đầu tư quốc tế vì nó giúp dòng vốn tìm kiếm được các dự án có tỷ suất lợi nhuận cao nhất.
MNCs với tiềm lực tài chính và lợi thế quy mô sẵn có có thể tiếp cận tới các nguồn tài chính khác nhau, chưa xuất hiện tại nước tiếp nhận vốn.