phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng I. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN Chƣơng II. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III. Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN tỉnh Hà Nam Chƣơng IV.
Các giải pháp tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN tỉnh Hà Nam 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong lĩnh vực đầu tƣ, đặc biệt là đầu tƣ FDI vào các khu công nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và đã có nhiều công trình đƣợc công bố nhƣ: (1) Sách: “Phát triển các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Nguyễn Chơn Trung và Trƣơng Giang Long (Nxb Chính trị quốc gia – năm 2004). Hai cuốn sách này đã làm rõ đƣợc một số lý luận về khu công nghiệp và các thủ tục hƣớng dẫn, các thủ tục đầu tƣ vào các khu công nghiệp nói chung. Tuy nhiên, trong sách chỉ trình bày những vấn đề cơ bản chƣa đi nghiên cứu đến công tác thu hút đầu tƣ vào các khu công nghiệp.
Tác giả đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm rõ tác động của hoạt động xúc tiến đầu tƣ đến việc thu hút đầu tƣ phát triển các khu công nghiệp. Qua đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tƣ của Việt Nam nói chung. Hai tác giả này nghiên cứu những vấn đề chung về khu công nghệ 4 z cao, tình hình hoạt động đầu tƣ vào phát triển các khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút đầu tƣ phát triển khu công nghệ cao của Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tuy nhiên, các luận án mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh.
Các tác giả đã hệ thống hóa những lý luận về khu công nghiệp, khu chế xuất, tình hình phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất của Việt Nam nói chung, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt đƣợc và những hạn chế trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất nói riêng. (8) Báo cáo: “Báo cáo tổng kết công tác quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam năm 2014 phƣơng hƣớng nhiệm vụ năm 2015”; “báo cáo sơ kết công tác quản lý các KCN tỉnh Hà Nam 6 tháng đầu năm 2015” – Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam. Ngoài ra, còn một số bài báo phân tích trên tạp chí chuyên ngành khác. Các đề tài và những công trình nghiên cứu trên tuy đã đề cập đến vấn đề chính sách thu hút FDI vào KCN ở nhiều khía cạnh khác nhau, một số nghiên cứu đã có giá trị nhất định trong việc xây dựng cơ chế, chính sách thu hút FDI vào KCN nhƣng do mục đích khác nhau nên các công trình mới chủ yếu nghiên cứu dƣới góc độ khoa học hoặc nghiên cứu chính sách thu hút FDI ở một địa phƣơng khác.
Việc nghiên cứu để xây dựng mô hình KCN khác nhau với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau, ở từng giai đoạn khác nhau của mỗi địa phƣơng cũng khác nhau. Hiện nay chƣa có công trình nghiên cứu về chính sách thu hút FDI vào KCN tại địa phƣơng Hà Nam với cách tiếp cận từ nghiên cứu lý luận đến thực tiễn áp dụng cho tỉnh hiện nay. 5 z Mặc dù vậy, các công trình khoa học đã đƣợc công bố là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và viết luận văn này. Trên cơ sở đó , luận văn tiế p tục nghiên cƣ́u theo hƣớng chuyên sâu , cụ thể trên phạm vi một tỉnh nhằ m chỉ rõ những ƣu điểm, chỉ ra những mặt ha ̣n chế và nguyên nhân của việc thực thi chính thu hút FDI vào KCN của tỉnh, tƣ̀ đó đề xuấ t giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút FDI vào KCN của địa phƣơng.
Do vậy tác giả đã chọn đề tài “thu hút FDI vào các KCN của tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp, đi sâu nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận về thu hút FDI trong các KCN, trên cơ sở đó, kết hợp với thực tiễn tình hình địa phƣơng để đề ra một số giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút FDI vào KCN tỉnh Hà Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế chung của tỉnh. Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận và thực tiễn như sau: (1) Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây về thu hút FDI, kết hợp với khảo sát thực tiễn, luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thu hút FDI vào các khu công nghiệp và mối quan hệ giữa phát triển khu công nghiệp với thu hút FDI. (2) Luận văn cũng đã luận giải các nội dung, nhân tố ảnh hƣởng và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động thu hút FDI vào các khu công nghiệp theo cách tiếp cận vĩ mô dƣới góc độ của nhà quản lý. (3) Luận văn nghiên cứu thực trạng thu hút, tình hình thực hiện các chỉ tiêu thu hút và các nhân tố chính ảnh hƣởng đến hoạt đông thu hút FDI vào KCN của tỉnh Hà Nam.
Thông qua việc đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI vào các KCN của tỉnh Hà Nam, luận văn đã tìm ra những thành công và các tác động của nó đến việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam. (4) Bên cạnh đó Luận văn cũng chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thu hút FDI vào KCN của tỉnh, trong đó có cả những hạn chế về môi trƣờng đầu tƣ cũng nhƣ hạn chế trong kết quả thu hút đầu tƣ (sự mất cân đối trong thu hút vốn FDI 6 z vào KCN, hiệu quả sử dụng vốn FDI thấp, quy mô vốn nhỏ, tác động tiêu cực đến môi trƣờng sinh thái…); đồng thời cũng phân tích rõ nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, trong đó nhấn mạnh đến cơ sở hạ tầng kỹ thuất, quản lý nhà nƣớc, hoạt động xúc tiến đầu tƣ… (5) Kết quả nghiên cứu cũng góp phần khẳng định việc tăng cƣờng thu hút FDI vào KCN của Hà Nam cần gắn quy mô với chất lƣợng và hiệu quả sử dụng, chứ không thu hút bằng mọi giá. Trên cơ sở dự báo về bối cảnh thu hút FDI vào KCN của tỉnh trong thời gian tới và cơ sở phân tích ở chƣơng 3, Luận văn đƣa ra một số định hƣớng và các giải pháp để tăng cƣờng thu hút FDI vào các KCN tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016- 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THU HÚT FDI VÀO KCN 1.
Tổng quan về FDI 1. Khái niệm, đặc điểm, hình thức FDI Vốn đầu tƣ là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trƣởng kinh tế của một quốc gia. Nguồn vốn trong nƣớc không thể đảm bảo cho nhu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Chính vì vậy, mỗi quốc gia đều phải bổ sung nguồn vồn cho mình bằng cách thu hút vốn từ bên ngoài.
FDI là một trong những kênh thu hút nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Hiện nay, có nhiều quan niệm về FDI: Theo Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản đƣợc gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty. 7 z Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại định nghĩa đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Invesment) là vốn đầu tƣ thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ. Mục đích của nhà đầu tƣ là dành đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Đầu tƣ 2005 của Việt Nam thì đầu tƣ nƣớc ngoài là việc nhà ĐTNN đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo qui định của Luật này”.
Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tƣ là ngƣời nƣớc ngoài nhằm xác định đƣợc tƣ bản đƣợc chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vƣợt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Tóm lại, tuy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhƣng nhìn chung, các định nghĩa trên đã nhận dạng FDI trên các khía cạnh nhƣ sau: - Đây là loại hình đầu tƣ dài hạn bởi hoạt động đầu tƣ này gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất, kinh doanh tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Vốn FDI có bản chất là dòng chu chuyển vốn có thời hạn tƣơng đối dài. Vốn FDI đi liền với công trình, dự án đầu tƣ ở một địa điểm cụ thể nên nó có tính ổn định tƣơng đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thƣờng nhƣ các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tƣ gián tiếp.
- Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là đồng thời là ngƣời trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hƣởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài cần phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI để đƣợc tham gia vào ban điều hành, tuỳ theo Luật Đầu tƣ của mỗi nƣớc quy định. Luật Đầu tƣ Việt Nam năm 2005, số vốn tối thiểu của nƣớc ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số vốn pháp định của dự án, trừ những trƣờng hợp do Chính phủ quy định. Có nhiều cách phân loại FDI khác nhau tùy vào từng giác độ tiếp cận.