Chương 1 ĐIỀU KIỆN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở THÁI NGUYÊN 1. Một số khái niệm 1. Một số khái niệm và đặc điểm cơ bản về đầu tư nước ngoài Để hiểu được bản chất của đầu tư quốc tế và các hình thức hoạt động của nó, trước hết ta cần làm rõ khái niệm về đầu tư. Mặc dù còn khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là "đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai.
vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận"[3, tr. Ngày nay, hoạt động đầu tư quốc tế diễn ra ngày càng phổ biến và có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của các nước, kể cả nước đầu tư lẫn nước nhận đầu tư. Đầu tư quốc tế được thực hiện chủ yếu dưới ba hình thức cơ bản là: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành quá trình sử dụng số vốn mà họ đầu tư.
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật pháp Việt Nam. Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp: Một là, các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu, tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước. Hai là, quyền hành quản lý phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp 100% vốn thì toàn bộ do chủ đầu tư nước ngoài điều hành. 8 Ba là, lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Lời, lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập doanh nghiệp) cho nước chủ nhà [4, tr. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài - Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức: 1) Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới; 2) Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động; 3) Mua cổ phiếu để thôn tín hoặc sát nhập. Các quan điểm khác nhau về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển kinh tế, xã hội 1. Quan niệm của các nhà khoa học Phương Tây về thu hút FDI FDI là một hình thức đầu tư của nước ngoài vào nước được đầu tư.
Nó không những mang lại hiệu quả toàn diện cho nước được đầu tư, mà đối với các nước chủ đầu tư cũng được lợi trong việc đầu tư. Đa số các nước phương Tây đóng vai trò chủ đầu tư. Và quan niệm đầu tư nước ngoài FDI của họ nhằm mục tiêu lợi ích sau: Thứ nhất, tìm kiếm tài nguyên: Mục đích của các nhà đầu tư phương Tây thực hiện ĐTNN là muốn tìm kiếm các nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất, kinh doanh với chi phí rẻ hơn so với trong nớc để thu được lợi nhuận lớn hơn cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đang cung cấp sản phẩm và thị trường mới trong tương lai. Có ba loại tài nguyên thường được các nhà đầu tư Phương Tây tìm kiếm khi đầu tư vào một nước nào đó gồm: 1) tài nguyên thiên nhiên như là khoáng sản, nguyên vật liệu thô, sản phẩm nông nghiệp và những tài nguyên có hạn.
Việc sử dụng các tài nguyên này sẽ giúp cho các nhà đầu tư này giảm tối thiểu chi phí sản xuất đồng thời đảm bảo nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất; 2) Nhà đầu tư Phương Tây tìm kiếm các nguồn cung cấp dồi dào với giá rẻ cũng như nguồn lao động lành nghề và không lành nghề. Các nhà đầu tư phương Tây 9 thường chuyển nhà máy từ các nước có chi phí lao động cao sang những nước có chi phí lao động thấp và 3) Nguồn tài nguyên được các nhà đầu tư tìm kiếm là năng lực về kỹ thuật, quản lý doanh nghiệp, chuyên gia marketing hoặc kỹ năng tổ chức quản lý. Thứ hai, tìm kiếm thị trường: Tìm kiếm, mở rộng thị trường và tận dụng các điều kiện tự do về thương mại và thuế quan là động lực phổ biến thúc đẩy các công ty các nước phương Tây thực hiện đầu tư ra nước ngoài. ở các thị trường mới nổi, với những khách hàng là người có thể mua được những sản phẩm chất lượng cao, đang ngày càng phát triển và hấp dẫn các nhà đầu tư từ nước ngoài.
Việc tìm kiếm thị trường để đầu tư gồm cả những thị trường đã có hàng hoá của doanh nghiệp và những thị trường mới. Ngoài ra, dung lượng thị trường tiềm năng và xu hướng phát triển tương lai của thị trường cũng là một lý do thúc đẩy các nhà đầu tư phương Tây thực hiện đầu tư. Thứ ba, tìm kiếm các nguồn lực: Động lực về tìm kiếm nguồn lực được dựa trên cấu trúc của các nguồn tài nguyên đã có hoặc kết quả của việc tìm kiếm thị trường đầu tư. Mục đích tìm kiếm nguồn lực của các nhà đầu tư phương Tây là tận dụng các lợi thế các nguồn lực đã có như văn hoá, hệ thống kinh tế, chính trị và thị trường ở một số khu vực để tập trung sản xuất nhằm cung cấp sản phẩm cho nhiều thị trường khác.
Nguồn lực gồm hai loại: 1) Tận dụng những lợi thế khác nhau đã có sẵn và các tài sản truyền thống ở các nước. Sự đầu tư của phương Tây ở các nước phát triển và nước đang phát triển là sự đầu tư về tiền vốn, công nghệ và thông tin làm gia tăng giá trị của các hoạt động đầu tư và sau đó là lao động và tài nguyên thiên thiên; và 2) Tìm kiếm nguồn lực còn được thực hiện ở các nước tương tự về hệ thống kinh tế và mức thu nhập, đồng thời cũng tận dụng những thuận lợi của qui mô nền kinh tế và sự khác nhau về thị hiếu tiêu dùng cùng khả năng cung cấp. 10 Để việc tìm kiếm nguồn lực được thực hiện, các thị trường đa biên cần được mở và phát triển. Về thực tế, tìm kiếm nguồn lực dường như là sự cạnh tranh của các công ty toàn cầu về yếu tố cơ bản của sản phẩm được đưa ra thị trường và khả năng đa dạng hóa sản phẩm của công ty cũng như khả năng khai thác lợi nhuận trong sản xuất ở một số nước.
Thứ tư, tìm kiếm tài sản chiến lược: Là hình thức xuất hiện ở giai đoạn cao của toàn cầu hoá. Thực hiện đầu tư với mục đích này, các nhà đầu tư phương Tây tìm kiếm khả năng nghiên cứu và phát triển. Nhà đầu tư có thể sử dụng tài sản của các công ty nước ngoài để thúc đẩy mục tiêu chiến lược dài hạn đặc biệt là cho việc duy trì và đẩy mạnh khả năng cạnh tranh quốc tế. Sự tìm kiếm này giúp khám phá những lợi thế đặc biệt hoặc lợi thế về marketing.
Hơn thế nữa, chiến lược và sự hợp lý hoá trong đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp các doanh nghiệp từng bước cơ cấu lại tài sản nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh. Chiến lược này nhằm củng cố và nâng cao sức mạnh của chiến lược cạnh tranh lâu dài [3, tr. Quan niệm của các học giả Trung Quốc về thu hút FDI Mục tiêu của chính sách thu hút FDI của Trung Quốc không chỉ nhằm hướng tới thu hút được vốn, công nghệ, phương pháp quản lý tiên tiến mà còn nhằm phục vụ nhiều mục tiêu chung quan trọng khác như phát triển các ngành kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, có vai trò cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế. Vì thế, trong chính sách thu hút FDI của Trung Quốc có định hướng thu hút FDI, hay nói cách khác là chính sách về cơ cấu đầu tư.
Đó là việc xác định rõ những ngành, lĩnh vực, địa bàn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tự do đầu tư; những ngành, lĩnh vực, địa bàn đầu tư có điều kiện; những ngành, lĩnh vực, địa bàn cấm đầu tư. Chính sách cơ cấu đầu tư có liên quan mật thiết với mức độ mở cửa thị trường, tự do hóa đầu tư, sự 11 bảo hộ sản xuất trong nước. Đồng thời, mỗi khu vực, mỗi nước đầu tư lại có những thế mạnh riêng về tiềm lực vốn, công nghệ cũng như trình độ quản lý nên cần phải có chính sách về cơ cấu đối tác đầu tư, Trung Quốc xây dựng chính sách về cơ cấu đầu tư phụ thuộc vào mục tiêu, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phụ thuộc vào mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế và trình độ phát triển của Trung Quốc. Xu hướng của Trung Quốc là chuyển mục tiêu thu hút FDI từ chỗ tập trung vào những ngành sử dụng nhiều lao động sang những ngành có giá trị kinh tế cao và lĩnh vực dịch vụ.
Trung Quốc phân chia ngành nghề đầu tư thành bốn loại: Khuyến khích, được phép, hạn chế và cấm. Qua đó giúp các nhà đầu tư nước ngoài biết và lựa chọn đầu tư. Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích đầu tư vào các vùng khó khăn như miền Trung và miền Tây, được giảm thuế thu nhập trong 10 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, nới lỏng tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị trong khu vực này, cho phép các địa phương được sử dụng các biện pháp phù hợp để thu hút FDI như miễn tiền thuê đất, cho phép thành lập doanh nghiệp liên doanh với thời hạn 99 năm. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia.
đều coi trọng thu hút FDI từ các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Mỹ, các nước Tây Âu để phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo [18, tr. Quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về thu hút FDI Đi lên từ con đường nghèo khó, Lại phải xoay sở chống thực dân Mỹ và Pháp suốt hàng trăm năm, đó là những khó khắn trong việc xây dựng đất nước của nước ta.