Chương 1 - Những tiềm năng của thành phố Cần Thơ trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chương 2 - Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp thành phố Cần Thơ trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995). Chương 3 - Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần Thơ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2010). NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1.
Một số vấn đề chung về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” và “Khu công nghiệp” 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Theo Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: World Bank, viết tắt là WB): “FDI là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Các nhà ĐTNN có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà ĐTNN và các đối tác đầu tư địa phương.
FDI không bao gồm các hoạt động như cấp giấy phép, hợp đồng phụ và đầu tư chứng khoán trong đó nhà ĐTNN không giữ vai trò chi phối hoặc kiểm soát chủ yếu [52, tr. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (tiếng Anh: World Trade Ozganization, viết tắt là WTO): FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”[52, 16]. Theo Từ điển bách khoa toàn thư trực tuyến Việt Nam: “Đầu tư là bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc HĐH, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Đầu tư bao gồm: đầu tư sản xuất, đầu tư dịch vụ v. Thông thường, đầu tư là bỏ vốn để tạo ra một tài sản đem lại lợi nhuận; là bỏ vốn vào những giá trị động sản.
Nguồn vốn đầu tư lấy từ trong lợi nhuận của các đơn vị sản xuất, từ vốn vay ngân hàng hay từ cấp phát ngân sách; nói chung là từ quỹ tích luỹ của tái sản xuất xã hội, không thuộc quỹ tiêu dùng. Cơ cấu và hiệu quả đầu tư (tính bằng thời gian thu hồi vốn, hoặc bằng bảng tổng kết tài sản hiện hành) quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí. Trong cải cách kinh tế, tăng vốn đầu tư từ mọi nguồn (ngân sách nhà nước, tích luỹ của các đơn vị kinh tế, tích luỹ của các tầng lớp dân cư, tiết kiệm tiêu dùng, thu hút vốn ĐTNN dưới nhiều hình thức, vv.) đi đôi với đổi mới việc sử dụng vốn (điều chỉnh cơ cấu đầu tư và cơ chế đầu tư) nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo ra nhịp độ phát triển nhanh, mạnh, vững chắc là những vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Đầu tư chiều sâu là việc đổi mới thiết bị, công nghệ, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đổi mới và mở rộng mặt hàng.
có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng, đặc biệt trong thời đại ngày nay” [75]. “Đầu tư quốc tế là xuất khẩu tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh. Đây là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế, qua đó tư bản của nước này di chuyển sang nước khác nhằm mục đích trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận; ngoài ra, cũng có hình thức viện trợ không hoàn lại không nhằm mục đích kinh doanh. Đầu tư quốc tế bao gồm: đầu tư dài hạn, đầu tư ngắn hạn…Đầu tư quốc tế chủ yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ không hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi hoặc lãi nhẹ; đầu tư có tính chất công như đầu tư của chính phủ, các tổ chức quốc gia, các tổ chức quốc tế phi chính phủ; đầu tư có tính chất tư là đầu tư của các tổ chức tư và tư nhân; đầu tư hỗn hợp, có cả hai tính chất công và tư; đầu tư nhiều bên (trường hợp bên đầu tư là một tổ chức đại diện cho nhiều tổ chức như ngân hàng Thế giới)” [75].
Luận văn căn cứ theo nội dung Luật đầu tư đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1 - 7 - 2006 áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước, nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam, và nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Luật đầu tư 2005 được ban hành nhằm thay thế Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998. Theo đó: Đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) có nghĩa là nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp (tiếng Anh: Foreign Portfolio Investment, viết tắt là FPI): là nhà đầu tư bỏ vốn ra kinh doanh nhưng không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư, như: mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Việc Quốc hội nước ta ban hành quy định thêm về các hình thức đầu tư gián tiếp nhằm tạo cơ sở pháp lý để có thể thu hút có hiệu quả nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Bởi vì đây là một nguồn vốn quan trọng, vừa có tác dụng phục vụ cho quá trình CNH - HĐH đất nước, vừa phù hợp với những quy định của điều ước quốc tế.
Từ những định nghĩa trên, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về ĐTNN, luận văn đưa ra nhận định về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) bỏ vốn đầu tư bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Theo Luật đầu tư năm 2005, ĐTNN có hai hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp (như đã trình bày ở trên). Căn cứ theo Luật Đầu tư mới nhất được Quốc hội khóa XI ban hành vào năm 2005, thì FDI có bốn hình thức: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN) bao gồm doanh nghiệp do nhà ĐTNN thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Trong đó: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn ĐTNN hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn tại Việt Nam; Đầu tư theo hình thức hợp đồng, gồm: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Business Cooperation Contract), Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT - Build Operate Transfer Contract), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO - Build Transfer Operate Contract), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT - Build Transfer Contract); Đầu tư phát triển kinh doanh; Và hình thức đầu tư bằng việc mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các hình thức FDI khác như: Đầu tư thông qua mô hình “công ty mẹ” và “công ty con”; hình thức công ty cổ phần; hình thức chi nhánh công ty nước ngoài; hình thức công ty hợp danh; hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn FDI là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng theo hướng CNH - HĐH. Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng chưa đến 50% GDP. Từ sau năm 1986 và nhất là từ khi Luật ĐTNN được ban hành (1987), phần lớn nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nước ta tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực chính đó là công nghiệp và dịch vụ.
Điều này đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước. Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp liên tục tăng qua các năm (từ 23,79% năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm 2006). Đến nay, khu vực sản xuất có vốn ĐTNN chiếm gần 40% sản lượng công nghiệp, thúc đẩy ngành công nghiệp nước nhà phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân 15 - 16%/năm.