phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 2 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Chƣơng 1: Cơ sở phương pháp luận về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí Việt Nam. Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 3 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội CHƢƠNG 1: CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.1 Khái quát đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 1.1 Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức cá nhân, tổ chức nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn dưới các hình thức đầu tư khác nhau vào hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận.
Lịch sử đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu khi các nước tư bản hình thành thuộc địa bên ngoài lãnh thổ của mình nhằm tìm kiếm nguồn nguyên liệu cung cấp cho hoạt động sản xuất ở chính quốc để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hiện nay, với quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự phát triển của KHCN ngày càng mạnh mẽ thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành xu hướng của thời đại, là yếu tố không thể thiếu của sự phát triển kinh tế đối với tất cả các nước trên thế giới. Chính vì vậy, cần phải có một khái niệm chung về hình thức này. Đã có nhiều khái niệm được đưa ra bởi các tổ chức kinh tế quốc tế và các quốc gia với mục đích mang lại cái nhìn tổng quan nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Dưới đây là một số khái niệm của các tổ chức OECD, WTO, IMF và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2005. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một cá nhân hoặc tổ chức thuộc cơ quan chính phủ hoặc không thuộc cơ quan chính phủ tại nước ngoài. Theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà cá nhân, tổ chức đó quản lý ở nước ngòai Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 4 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là các cơ sở kinh doanh. Trong các trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”. Đây là khái niệm được chấp nhận rộng rãi trên thế giới.
Tại Việt Nam, theo Luật Đầu tư 2005, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Cũng có một hình thức khác đước xem là đầu tư trực tiếp nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài mua lại toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp của nước sở tại để kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh”. Nhiều quan niệm được đưa ra nhưng một cách chung nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực chất việc là tìm kiếm lợi nhuận lâu dài ở nơi có lợi thế nhiều hơn trong nước thông qua việc di chuyển vốn đến nước tiếp nhận đầu tư.2 Đặc điểm chính đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Bản chất của đầu tư quốc tế hay FDI cũng là đầu tư, tức là các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ đầu tư. Vì vậy, FDI mang đầy đủ đặc điểm của đầu tư nói chung.
Tuy nhiên còn mang một số đặc điểm quan trọng: - Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân, do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lại. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. - Chủ đầu tư nước ngoài tiến hành mọi hoạt động đầu tư, nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh theo tỷ lệ vốn góp của mình. Nguồn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 5 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được - Các nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới là động lực chủ yếu cho đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu. Các nước này thường chiếm tỷ trọng từ 75%-80% lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới. - FDI không làm tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, trái lại FDI còn tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. - FDI là hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài.
Nếu ODA và các hình thức đầu tư nước ngoài khác có những hạn chế nhất định, thì FDI lại tỏ ra là hình thức đầu tư có hiệu quả, tạo ra sự chuyển biến về chất trong nền kinh tế, gắn liền với hình thức sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở thành loại hình hoạt động kinh tế sôi động trên thế giới.2 Các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hiện nay tại Việt Nam có các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân nào mới. Công ty liên doanh: là hình thức công ty được hình thành với sự tham gia của một hoặc nhiều bên của nước nhận đầu tư và nước đầu tư; cho ra đời một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động dưới sự chi phối của pháp luật của Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 6 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nước nhận đầu tư. Hình thức công ty 100% vốn nước ngoài: là hình thức công ty hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh; cho ra đời một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động dưới sự chi phối của pháp luật của nước nhận đầu tư.
Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao (BOT-Build-Operation- Transfer): là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao – Kinh doanh (BTO): là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT): là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cầu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện dưới hình thức Hợp đồng Phân chia sản phẩm (Production Sharing Contract - PSC): Đây là hình thức hợp đồng phổ biến được ký kết giữa Chính phủ với một hoặc một nhóm công ty khai thác tài nguyên nước ngoài chú trọng đến sản lượng tài nguyên (thường là dầu mỏ) được khai thác từ quốc gia này.
Hợp đồng này quy định nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ 100% vốn để tìm kiếm, thăm dò và khai thác tài nguyên trên nước sở tại. Họ cũng phải chịu hoàn toàn Lê Thu Trang Khóa 2010 - 2012 7 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội những rủi ro trong quá trình TDKT.