Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện dưới dạng Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị với đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam", do nghiên cứu sinh Ngô Thái Hà thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Xuân Đình và Nguyễn Đắc Thắng (mã số chuyên ngành: 62.01).
Về tính cấp thiết, tác giả khẳng định chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nội dung cốt lõi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sau gần 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và cơ cấu kinh tế từng bước dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp, chủ yếu dựa vào khai thác theo chiều rộng và các ngành công nghệ thấp; cơ cấu đầu tư chưa hợp lý; tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, không phải mọi trường hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đều bảo đảm phát triển bền vững. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, gắn kết chuyển dịch cơ cấu kinh tế với mục tiêu phát triển bền vững dưới góc độ kinh tế chính trị học là một yêu cầu khách quan và cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở nước ta trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong thời gian từ năm 2000 đến nay.
- Luận giải, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở nước ta.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị học.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, phương pháp luận và thực tiễn trên phương diện kinh tế chính trị học về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
- Phạm vi thời gian: Số liệu phục vụ phân tích, đánh giá được cập nhật và xử lý chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000 đến quý I/2015.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại Việt Nam, đồng thời có liên hệ và tham khảo kinh nghiệm thực tiễn từ các nền kinh tế APEC và một số nước đang phát triển.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Ở ngoài nước: C. Mác đã phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua phân công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội; David Ricardo với lý thuyết thương mại tự do và lợi thế so sánh; trường phái cơ cấu kinh tế học Mỹ Latinh thập niên 1940–1950 chủ trương giảm tỷ trọng khu vực sơ khai, tăng khu vực chế tạo và dịch vụ thông qua chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu có sự can thiệp của Nhà nước; P. Samuelson với lý thuyết "Cái vòng luẩn quẩn" và "cú huých từ bên ngoài" dựa trên 4 nhân tố (nhân lực, tài nguyên, vốn tư bản, kỹ thuật); Arthur Lewis với mô hình kinh tế nhị nguyên chuyển dịch lao động nông nghiệp dư thừa sang khu vực công nghiệp thành thị; Nhung Điện Tân (2003) với tác phẩm "Điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp Trung Quốc và hướng đi trong tương lai" đề cập đến việc chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu và hiện đại hóa nông nghiệp.
- Ở trong nước: Các giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, Kinh tế phát triển; các công trình của Ngô Doãn Vịnh (2005, 2006, 2007) về phát triển kinh tế và cải tiến cơ cấu nền kinh tế Việt Nam; Bùi Tất Thắng (2006, 2007) nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng trong thời kỳ công nghiệp hóa; Vũ Minh Khương phân tích về cải cách cơ cấu gắn với gia tăng năng suất; Trần Du Lịch và Nguyễn Minh Phong nghiên cứu về tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng cạnh tranh và phát triển bền vững.
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững.
- Ở ngoài nước: H. Toshima chỉ ra điểm không phù hợp của mô hình A. Lewis đối với các nước nông nghiệp lúa nước châu Á gió mùa do tính chất mùa vụ; các công trình của trường phái Malthus mới như "Mùa xuân im lặng" (Rachel Carson, 1962), "Bùng nổ dân số" (Ehrlich, 1970), "Giới hạn tăng trưởng" (Câu lạc bộ La Mã, 1972); Báo cáo Brundtland ("Tương lai chung của chúng ta", WCED, 1987); Tuyên bố Rio và Chương trình Nghị sự 21 (UNCED, 1992); Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg (2002); Tatyana P. Soubbotina (2007) với công trình "Không chỉ là tăng trưởng kinh tế: nhập môn về phát triển bền vững".
- Ở trong nước: Quyết định 187-CT (1991) của Hội đồng Bộ trưởng; Chỉ thị 36-CT/TW (1998) và Nghị quyết 41-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị; các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), X (2006), XI (2011); Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam; các nghiên cứu của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường (1995), Viện Môi trường và Phát triển bền vững (2003), Phạm Xuân Nam (1997) về đổi mới chính sách xã hội và hệ chỉ báo phát triển bền vững.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển bền vững.
- Trương Quang Học với nghiên cứu "Phát triển bền vững – Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI"; các đề tài quy hoạch và xây dựng hệ thống chỉ tiêu Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ của Viện Chiến lược phát triển (1995, 2006); Luận án Tiến sĩ của Tạ Đình Thi (2007) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; các đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM, 2009) về tái cơ cấu nền kinh tế và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững; sách chuyên khảo của Phạm Thị Khanh (2010) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết:
Các công trình trước đây phần lớn tiếp cận chuyển dịch cơ cấu kinh tế dưới góc độ tối ưu hóa lợi ích kinh tế đơn thuần hoặc thiên về xử lý các khía cạnh kỹ thuật môi trường riêng lẻ. Luận án của Ngô Thái Hà giải quyết khoảng trống nghiên cứu toàn diện về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường dưới lăng kính kinh tế chính trị học tại Việt Nam, cập nhật số liệu và bối cảnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Cơ cấu kinh tế: Luận án tiếp cận định nghĩa từ Từ điển bách khoa Việt Nam và quan điểm hệ thống của Ngô Doãn Vịnh, xác định cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành; bao gồm nhóm các phần tử cơ cấu (ngành, lãnh thổ, thành phần giữ vai trò quyết định) và nhóm các phần tử phi cơ cấu. Cơ cấu kinh tế được phân chia thành: cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: Là sự thay đổi có mục đích, định hướng nhằm chuyển cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn, biểu hiện qua sự biến đổi tỷ trọng giữa các ngành và sự tái phân bổ các nguồn lực (vốn, lao động, công nghệ). Luận án phân biệt hai hình thức: chuyển dịch theo tín hiệu thị trường và chuyển dịch có chủ đích dưới sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước.
- Phát triển bền vững: Kế thừa định nghĩa của Báo cáo Brundtland (1987), Chương trình Nghị sự 21 và quan điểm của Ủy ban Phát triển Bền vững Liên Hợp quốc (CDS). Tác giả tổng hợp mô hình phát triển bền vững gồm 3 trụ cột truyền thống (Kinh tế – Xã hội – Môi trường) và đề xuất mô hình mở rộng 4 cực bổ sung yếu tố Thể chế với vai trò chi phối và điều tiết.
| Khía cạnh |
Nội hàm mục tiêu đối với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế |
| Bền vững về kinh tế |
Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực; phát huy lợi thế so sánh; nâng cao giá trị gia tăng; xác định ngành mũi nhọn và nâng cao năng lực cạnh tranh. |
| Bền vững về xã hội |
Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và ổn định chính trị - xã hội. |
| Bền vững về môi trường |
Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; giảm phát thải gây ô nhiễm đất, nước, không khí; bảo vệ rừng, đa dạng sinh học và thực hiện "công nghiệp hóa sạch". |
| Trụ cột Thể chế (đề xuất) |
Hoàn thiện khung khổ pháp lý, công cụ quản lý nhà nước, chính sách quy hoạch nhằm điều tiết hài hòa ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. |
Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp tiếp cận: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp lôgic – lịch sử; phương pháp hệ thống – cấu trúc; phương pháp định tính kết hợp định lượng.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp tập hợp, phân loại và xử lý thông tin; phương pháp hệ thống hóa lý thuyết; phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp phân tích mô hình thực tiễn; phương pháp chuyên gia; phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
Nguồn dữ liệu
Luận án sử dụng các nguồn số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Bảng cân đối liên ngành (I/O), số liệu từ các Bộ, ngành liên quan, các văn kiện của Đảng, báo cáo của các tổ chức quốc tế (UN, WB, IMF, APEC, IUCN, WWF) và các dữ liệu quan trắc môi trường (nồng độ BOD, TSS, khí thải).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững theo trình tự thời gian. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hoặc giải quyết các vấn đề kỹ thuật môi trường đơn lẻ. Từ đó, chương 1 xác định rõ khoảng trống khoa học và định hình hướng tiếp cận của luận án là phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tích hợp trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường dưới giác độ kinh tế chính trị học.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững
Chương 2 làm rõ bản chất của cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển bền vững. Tác giả phân tích sâu vai trò của từng nhóm ngành đối với mục tiêu phát triển bền vững:
- Ngành nông nghiệp: Đóng vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định chính trị – xã hội; giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn (nơi chiếm gần 60% lực lượng lao động xã hội tại thời điểm nghiên cứu); bảo vệ tài nguyên đất, nước và giữ gìn an ninh quốc phòng tại các vùng biên giới, hải đảo.
- Ngành công nghiệp: Tạo động lực tăng trưởng và xuất khẩu nhưng cần kiểm soát các tác động tiêu cực về cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường do phát thải; phân bố hợp lý không gian công nghiệp nhằm hạn chế áp lực đô thị hóa quá tải; giải quyết hài hòa xung đột lợi ích liên ngành, liên vùng.
- Ngành dịch vụ: Cung cấp các yếu tố đầu vào thượng nguồn (R&D, thiết kế, đào tạo), trung nguồn (tài chính, kiểm nghiệm, kỹ thuật) và hạ nguồn (vận tải, logistics, phân phối); đóng góp tỷ trọng lớn vào giá trị gia tăng và thúc đẩy công nghiệp hóa sạch, phát triển nền kinh tế tri thức.
Đồng thời, chương 2 thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) và tổng kết bài học kinh nghiệm từ các nền kinh tế APEC và các nước đang phát triển.
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
Chương 3 là chương trọng tâm thực nghiệm, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến quý I/2015. Tác giả đánh giá mức độ bền vững thông qua hệ thống số liệu thống kê và bảng biểu thực chứng:
| Nhóm nội dung đánh giá |
Các chỉ tiêu và bảng số liệu thực chứng trong luận án |
| Mức độ bền vững về kinh tế |
- Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP cả nước giai đoạn 2001–quý I/2015 (Bảng 3.2, Bảng 3.3). - Mức độ ổn định tăng trưởng qua các kế hoạch 5 năm (Bảng 3.4). - Chỉ số lan tỏa về kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu từ bảng I/O (Bảng 3.5). - Cơ cấu giá trị sản xuất và kết quả ngành nông nghiệp (Bảng 3.6, Bảng 3.7). - Chỉ số sản xuất và giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 (Bảng 3.10, Bảng 3.11). - Cơ cấu vốn đầu tư phân theo khu vực kinh tế (Bảng 3.12, Bảng 3.16). - Kim ngạch xuất nhập khẩu và kết quả hoạt động dịch vụ (Bảng 3.14, Bảng 3.15). |
| Mức độ bền vững về xã hội |
- Cơ cấu lao động phân theo ngành giai đoạn 2000–quý I/2015 (Bảng 3.17). - Quan hệ hai chiều giữa tốc độ tăng trưởng và chỉ tiêu việc làm qua ma trận hệ số tương quan 2000–2010 (Bảng 3.18). - Thu nhập và chênh lệch thu nhập trung bình tháng/1 lao động theo không gian (Bảng 3.19). - Mối quan hệ giữa tăng trưởng, bất bình đẳng và tỷ lệ nghèo phân theo vùng, thành thị, nông thôn (Bảng 3.20, Bảng 3.21). - Mức độ cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội của các xã nghèo (Bảng 3.22). |
| Mức độ bền vững về môi trường |
- Diện tích rừng trồng tập trung và diện tích rừng bị thiệt hại (Bảng 3.8). - Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản thời kỳ 2001–quý I/2015 (Bảng 3.9). - Mức độ ô nhiễm nước mặt thể hiện qua diễn biến nồng độ BOD tại sông Tô Lịch, hồ Bảy Mẫu (Hà Nội), hồ An Biên (Hải Phòng), kênh Nhiêu Lộc (TP. Hồ Chí Minh) (Hình 3.4). - Tình trạng phát thải khí độc hại ($SO_x, NO_x, H_2S$) và chất thải rắn công nghiệp. |
Chương 3 chỉ ra những hạn chế căn bản: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; tăng trưởng phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và vốn đầu tư; công nghiệp chủ yếu là gia công lắp ráp với giá trị gia tăng nội địa thấp; dịch vụ chất lượng cao phát triển chưa tương xứng; lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn; phân hóa giàu nghèo gia tăng và ô nhiễm môi trường sinh thái tại các đô thị, khu công nghiệp ngày càng phức tạp. Nguyên nhân xuất phát từ những bất cập trong quy hoạch, thể chế quản lý nhà nước chậm đổi mới, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và việc điều phối liên kết vùng chưa hiệu quả.
Chương 4: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất quan điểm, định hướng chung và định hướng cụ thể cho từng ngành, đồng thời luận giải 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách quản lý kinh tế gắn với các tiêu chuẩn môi trường; tăng cường chế tài và công cụ kinh tế trong kiểm soát ô nhiễm.
- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch theo hướng phát triển bền vững: Đổi mới quy trình lập quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch vùng lãnh thổ; tích hợp đầy đủ các chỉ tiêu xã hội và môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm và hàng năm.
- Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ: Đổi mới căn bản giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và điều chỉnh chính sách ngành:
- Nông nghiệp: Chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, nông nghiệp sạch, sinh thái, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, bảo đảm an ninh lương thực.
- Công nghiệp: Điều chỉnh cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, các ngành công nghiệp sạch và công nghệ cao; giảm dần các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên và gây ô nhiễm.
- Dịch vụ: Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao như tài chính – ngân hàng, logistics, viễn thông, du lịch sinh thái và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận: Làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững dưới góc độ kinh tế chính trị học; làm rõ vị trí, vai trò của từng ngành kinh tế và bổ sung yếu tố thể chế vào khung phân tích phát triển bền vững.
- Về hệ thống tiêu chí: Bổ sung và làm rõ thêm nội dung cùng hệ thống các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững đồng thời trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh phân tích toàn diện, có căn cứ khoa học và số liệu thực chứng về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến quý I/2015 trên cả ba phương diện tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; chỉ rõ các điểm nghẽn và nguyên nhân cốt lõi.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và 4 nhóm giải pháp chủ yếu, đồng bộ nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển bền vững tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do nguồn số liệu thống kê theo lãnh thổ ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2000 chưa thật đầy đủ và đồng bộ, luận án chủ yếu tập trung xử lý và phân tích chuỗi dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2000 đến đầu năm 2015. Bên cạnh đó, luận án tập trung sâu vào cơ cấu ngành kinh tế, các khía cạnh về cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế được lồng ghép xem xét trong mối quan hệ phụ trợ chứ chưa tách thành các chương phân tích độc lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục cập nhật và xử lý chuỗi số liệu sau năm 2015; mở rộng nghiên cứu sâu hơn về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế thế hệ mới, biến đổi khí hậu toàn cầu và chuyển đổi mô hình kinh tế xanh đối với cơ cấu kinh tế theo từng vùng lãnh thổ cụ thể tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho các cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Kinh tế Trung ương trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, lồng ghép các chỉ tiêu phát triển bền vững vào chính sách phát triển ngành và liên kết vùng.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo có giá trị thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế; đặc biệt là phương pháp luận xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững 3 trụ cột kết hợp thể chế và kỹ thuật phân tích ma trận I/O, ma trận tương quan giữa tăng trưởng và việc làm.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mô hình phát triển bền vững gồm những trụ cột nào?
Luận án kế thừa mô hình 3 cực truyền thống được quốc tế công nhận rộng rãi (gồm Kinh tế, Xã hội và Môi trường), đồng thời tiếp thu quan điểm của Ủy ban Phát triển Bền vững Liên Hợp quốc (CDS) để đề xuất mô hình 4 cực bổ sung yếu tố Thể chế. Trong đó, thể chế là yếu tố chủ quan chi phối, điều tiết sự phát triển hài hòa giữa ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
2. Tại sao mô hình kinh tế nhị nguyên của Arthur Lewis lại bộc lộ hạn chế khi áp dụng vào nông nghiệp châu Á gió mùa theo tổng quan của luận án?
Luận án dẫn luận điểm của học giả H. Toshima chỉ ra rằng mô hình Lewis (chuyển dịch lao động dư thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp) không hoàn toàn đúng với các nước nông nghiệp lúa nước châu Á gió mùa. Đặc thù của nền nông nghiệp lúa nước là tình trạng thiếu lao động trong các thời điểm đỉnh cao của mùa vụ và chỉ dư thừa lao động trong thời gian nông nhàn, do đó việc chuyển dịch lao động nếu không có quy hoạch sẽ làm suy giảm năng suất và sản lượng nông nghiệp.
3. Luận án sử dụng những chỉ báo thực nghiệm nào để đánh giá tính bền vững về mặt môi trường trong Chương 3?
Luận án sử dụng các chỉ số và dữ liệu thực tế bao gồm: biến động diện tích rừng trồng tập trung và diện tích rừng bị thiệt hại (Bảng 3.8); diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản (Bảng 3.9); diễn biến nồng độ tiêu hao oxy sinh học (BOD) tại các lưu vực nước mặt đô thị như sông Tô Lịch, hồ Bảy Mẫu (Hà Nội), hồ An Biên (Hải Phòng), kênh Nhiêu Lộc (TP. Hồ Chí Minh); cùng các thông số về chất lượng không khí, khí thải công nghiệp ($SO_x, NO_x, H_2S$) và chất thải rắn.
4. Luận án phân tích mối quan hệ giữa khu vực dịch vụ với công nghiệp hóa sạch và phát triển bền vững như thế nào?
Khu vực dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào chất lượng cao cho toàn bộ nền kinh tế: dịch vụ thượng nguồn (R&D, thiết kế), dịch vụ trung nguồn (kiểm nghiệm, kỹ thuật, tài chính) và dịch vụ hạ nguồn (logistics, phân phối). Nếu thiếu các dịch vụ này, nền kinh tế không thể phát triển một nền công nghiệp cạnh tranh theo tiêu chuẩn "công nghiệp hóa sạch" và nông nghiệp sinh thái. Hơn nữa, dịch vụ là ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao, ít thâm dụng tài nguyên và phát thải thấp hơn công nghiệp chế tạo.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản tại Chương 4: (1) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững; (2) Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch theo hướng phát triển bền vững; (3) Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ; (4) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và điều chỉnh chính sách ngành (nông nghiệp sinh thái, công nghiệp sạch, dịch vụ giá trị gia tăng cao).
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị của tác giả Ngô Thái Hà đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững tại Việt Nam giai đoạn 2000–2015. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng của kinh tế chính trị học với các công cụ phân tích định lượng thực chứng, công trình đã làm rõ tính tất yếu của việc tích hợp 3 trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và nhân tố thể chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu. Luận án cung cấp bức tranh thực trạng khách quan về những mặt đạt được cũng như các hạn chế nội tại của nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách phát triển bền vững.