Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2.Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững Chương 3. Thƣ̣c tra ̣ng chuy ển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam Chương 4. Định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
CÁC CÔNG TRÌ NH NGHIÊN C ỨU Ở TRONG VÀ NGOÀI NƢ ỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Luâ ̣n án đã khái quát các công trin ̀ h nghiên cƣ́u của các tác giả trong và ngoài nƣớc bao gồm các công trình sách , bài nghiên cứu , đề tài khoa học đƣợc sắp xế p theo triǹ h tƣ̣ thời gian. Khái quát lại có ba hƣớng nghiên cứ chính sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu về cơ cấ u kinh tế và chuyể n dich ̣ cơ cấ u kinh tế 1. Ở ngoài nước: Trong lịch sử, C.Mác là một trong những học giả sớm bàn về CDCCKT thông qua việc phân tích về phân công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội (bao gồm cả tái sản xuất giữa đơn và tái sản xuất mở rộng).
Vấn đề CDCCKT đã đƣợc C. Mác đề cập là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trƣờng phát triển và CDCCKT hợp lý là sự chuyển dịch sang một CCKT có khả năng tái sản xuất mở rộng cao, phản ánh đƣợc năng lực khai thác, sử dụng các nguồn lực và phải phù hợp với các quy luật, các xu hƣớng của thời đại. Thập niên 1940, giới nghiên cứu kinh tế học ở Mỹ Latinh cho rằng thuyết thƣơng mại tự do để phát huy lợi thế so sánh cho PTKT theo lý luận của David Ricardo không phù hợp nữa. Ricardo cho rằng các nƣớc giàu tài nguyên có thể PTKT bằng cách xuất khẩu nguyên liệu thô.
Theo các nhà kinh tế học Mỹ Latinh, Ricardo đƣa ra thuyết đó vì nƣớc Anh không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp, song có lợi thế về khu vực chế tạo; và vì vậy nƣớc Anh cần theo đuổi thƣơng mại tự do để có thể nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu hàng chế tạo. Từ lập luận nhƣ thế, các nhà kinh tế học Mỹ Latinh chủ trƣơng rằng: muốn PTKT thì phải CDCCKT theo hƣớng giảm dần tỷ trọng của khu vực sơ khai (nông, lâm, ngƣ nghiệp và khai thác khoáng sản) và tăng dần tỷ trọng của khu vực chế tạo và khu vực dịch vụ. Trong quá trình CDCC đó, công nghệ là thiết yếu. Quan sát mô hình PTKT của nƣớc Phổ (tên gọi nƣớc Đức lúc bấy giờ), theo đó trong khi nông nghiệp còn đang là khu vực chủ đạo của nền kinh tế, thì công nghiệp nặng đã đƣợc Nhà nƣớc ƣu tiên phát triển làm động lực cho công nghiệp hóa, các nhà kinh tế học 6 z theo trƣờng phái cơ cấu chủ trƣơng rằng PTKT cần có sự can thiệp của Nhà nƣớc.
Trƣờng phái cơ cấu còn cho rằng quan hệ kinh tế quốc tế (thập niên 1940 đến 1960) là quan hệ các nƣớc đang phát triển cung cấp nguyên liệu thô, còn các nƣớc phát triển cung cấp hàng hóa chế tạo. Vì vậy, các nƣớc đang phát triển phải dựa vào nhu cầu trong nƣớc để phát triển nền công nghiệp. Kết quả của lý thuyết nói trên về PTKT đã làm ra đời chiến lƣợc công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đƣợc áp dụng rộng rãi ở các nƣớc đang phát triển từ thập niên 1950. Lý thuyết của trƣờng phái này đã hƣớng các nƣớc đang phát triển tránh không phụ thuộc vào việc xuất khẩu nguyên liệu thô sang các nƣớc phát triển, mà chủ động CDCCKT của mình theo hƣớng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Trong đó, để tăng công nghiệp với hàm lƣợng khoa học ngày càng cao thì cần có sự can thiệp của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, điều này có thể trở thành không khả thi nếu nhà nƣớc đó độc quyền và không minh bạch dẫn tới tình trạng lợi dụng nguồn tài chính của quốc gia cho các chƣơng trình, dự án công nghiệp một cách chủ quan, duy ý chí, không hiệu quả. Thực tế cho thấy rằng, với việc một số nƣớc áp dụng lý thuyết này, tỷ trọng dịch vụ đã tăng lên, nhƣng công nghiệp vẫn không tăng nhƣ mong muốn, và sự tăng đó lại vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô. Việc để có hàm lƣợng khoa học, công nghệ trong nền kinh tế, đặc biệt trong khu vực công nghiệp không thể là việc ngày một ngày hai.
Theo lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài, trong đó có P.Samuelson, để TTKT nói chung phải bảo đám 4 nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tƣ bản và kỹ thuật. Nhìn chung, ở các nƣớc đang phát triển, bốn nhân tố trên đây rất khan hiếm và việc kết hợp chúng đang gặp trở ngại lớn. Ở nhiều nƣớc khó khăn lại càng dấn sâu vào "cái vòng luẩn quẩn" của sự nghèo khổ. Để tăng trƣởng và phát triển phải có "cú huých từ bên ngoài" nhằm phá "cái vòng luẩn quẩn" ở nhiều điểm.
Điều này có nghĩa là phải có đầu tƣ lớn của nƣớc ngoài vào các nƣớc đang phát triển. Muốn vậy, các nƣớc đang phát triển phải tạo ra các điều kiện thuận lợi nhằm kích thích tính tích cực đầu tƣ của tƣ bản nƣớc ngoài. 7 z Về cơ bản, lý thuyết này có những đánh giá đúng về các nƣớc đang phát triển và cần phát triển thì phải giải quyết đƣợc những vấn đề trên. Hiện nay, những nƣớc đang phát triển vẫn đang gặp phải những vấn đề này trong quá trình phát triển của mình.
Tuy nhiên, những đánh giá cũng chƣa thật khách quan bởi không hẳn những nƣớc nghèo là những nƣớc nghèo về tài nguyên. Tài nguyên đƣợc phân bổ một cách tự nhiên ở các quốc gia, và trong chừng mực nhất định thì sự có nó là ngẫu nhiên. Tƣ tƣởng cơ bản trong mô hình nhị nguyên của A.Lewis là chuyển số lao động dƣ thừa trong nông nghiệp sang các ngành hiện đại của khu vực công nghiệp thành thị do hệ thống tƣ bản nƣớc ngoài đầu tƣ vào các nƣớc lạc hậu. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Nhƣ vậy, việc chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng: Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp (có năng suất lao động thấp hơn các ngành khác), chỉ để lại lƣợng lao động đủ để tạo ra sản lƣợng cố định, từ đó nâng cao sản lƣợng theo đầu ngƣời; Hai là, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao mức tăng trƣởng và PTKT nói chung. Lý thuyết này có nhiều tích cực đối với các quốc gia mới chuyển đổi hay các quốc gia nghèo, đang phát triển, nhƣng về lâu dài, điều này sẽ không phù hợp, bởi dần dần sự san bằng thu nhập và sự phát triển tƣơng đối cân bằng giữa các quốc gia sẽ diễn ra. Hơn nữa, việc chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp nếu không có kế hoạch sẽ dẫn tới làm suy giảm năng suất và sản lƣợng nông nghiệp, ảnh hƣởng tiêu cực đến an ninh, an toàn lƣơng thực. Trong tác phẩm “Điều Chỉnh cơ cấu nông nghiệp Trung Quốc và hướng đi trong tương lai” của học giả Nhung Điện Tân (Nhà xuất bản Khoa học xã hội , 2003) đã đề cập tới vấn đề CDCC trong nông nghiệp, tới những vấn đề đáng chú ý sau: Khuyến khích phát triển các TPKT trong nông nghiệp, nông thôn; tập trung đầu tƣ cho khoa học, công nghệ; đẩy mạnh chăn nuôi, đa dạng hóa sản phẩm trồng trọt hƣớng về xuất khẩu; điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng hội nhập… Những vấn đề tác giả đƣa ra nhằm mục đích chuyển dịch nền nông nghiệp Trung Quốc từ phát triển chiều rộng, số lƣợng sang chiều sâu, chất lƣợng, bên cạnh đó là 8 z việc giảm dần diện tích đất nông nghiệp để sử dụng cho mục đích khác hoặc cho tƣơng lai… Mục tiêu cuối cùng đƣợc tổng kết lại: trong ngắn hạn là nâng cao chất lƣợng và phát triển sản phẩm có lợi thế, tăng cƣờng ý thức về thƣơng hiệu; trong dài hạn là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại hóa, nhất thể hóa với sản phẩm chất lƣợng và năng suất cao, có thể bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia và PTBV.
Ở trong nước Vấn đề CCKT và CDCCKT đã đƣợc đề cập trong khá nhiều các tài liệu khoa học, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH. Cụ thể, trong các giáo trình nhƣ: Lịch sử các học thuyết kinh tế, Kinh tế phát triển… Các giáo trình này đã làm rõ những vấn đề cơ bản của CCKT và CDCCKT. Học giả Ngô Doãn Vịnh và các đồng nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến CCKT và CDCCKT, nhƣ: “Bàn về PTKT- nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang”(Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , 2005), “Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , 2006). “Bàn về cải tiến cơ cấu nền kinh tế Việt Nam”(Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , 2007) … Các công trình này đƣa ra những quan điểm, đặc điểm, tính chất, các yếu tố tác động đến CCKT, CDCCKT trên cơ sở từ kinh nghiệm nghiên cứu chiến lƣợc, quy hoạch và tổng kết thực tiễn quá trình CDCCKT ở nƣớc ta.
Trong các tác phẩm: “CDCC ngành kinh tế ở Việt Nam” (Nhà xuất bản Khoa ho ̣c xã hô ̣i , 2006)và “Các nhân tố ảnh hưởng đến CDCC ngành trong thời kỳ CNH ở Việt Nam”(Nhà xuất bản Khoa học xã hội , 2007), học giả Bùi Tất Thắng đã khái quát lý luận về CDCC ngành kinh tế ở nƣớc ta trong thời kỳ CNH, HĐH, chỉ ra thực trạng, nêu ra quan điểm, giải pháp nhằm thúc đẩy CDCC ngành kinh tế ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu về cải cách CCKT và tái cấu trúc nền KT, học giả Vũ Minh Khƣơng thông qua bài viết “Đôi điều về cải cách cơ cấu nền kinh tế” đã làm rõ khái niệm cải cách cơ cấu. Tâm điểm của cải cách cơ cấu là tăng năng suất, đƣợc đo bằng giá trị gia tăng tạo ra trên mỗi đơn vị nguồn lực. Đây là một trong những mục tiêu rất quan trọng của CDCCKT là tăng năng suất lao động.