phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của EU vào Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2022 Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của EU vào Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – EU và Hiệp định Bảo hộ đầu tƣ Việt Nam – EU có hiệu lực. 9 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề lý luận về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm WTO đã đưa ra cách hiểu như sau: Một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có quyền sở hữu và quyền quản lý một tài sản đặt ở một nƣớc khác (nƣớc tiếp nhận đầu tƣ) thì đó gọi là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Việc nhà đầu tƣ đƣợc quản lý tài sản đó là đặc điểm để phân biệt với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài với các hình thức đầu tƣ khác. Thƣờng tài sản này là các cơ sở kinh doanh của các nhà đầu tƣ đặt tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, và trong trƣờng hợp này các nhà đầu tƣ đƣợc gọi là “công ty mẹ”, cơ sở kinh doanh kia gọi là “công ty con” hoặc “chi nhánh công ty”.
Theo Luật đầu tư được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành số 67/2014/QH13 có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2015 quy định: - Đầu tƣ kinh doanh là hoạt động bỏ vốn đầu tƣ của chủ đầu tƣ thông qua việc thành lập các tổ chức kinh tế, hoạt động chung vốn đầu tƣ, mua cổ phần, vốn góp của tổ chức kinh tế, đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tƣ. - Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh tại Việt Nam. - Tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là thành viên hoặc cổ đông [7]. Nhìn chung, ta thấy không có quy định rõ ràng trong quan niệm về đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp trong Luật đầu tƣ 2014 mà đƣợc hiểu chung là đầu tƣ kinh doanh.
Thông qua các quan điểm trên, bản chất của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự di chuyển một khối lƣợng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao, đi kèm với đầu tƣ vốn là đầu tƣ công nghệ và tri thức kinh doanh, gắn liền với quyền điều hành và quản lý doanh nghiệp của chủ đầu tƣ. Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp toàn bộ hoặc một phần vốn đủ lớn tùy theo quy định của luật pháp từng nƣớc nhằm giành quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (1996) quy định chủ đầu tƣ nắm từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên, từ năm 2005, IMF khuyến nghị tỷ lệ này đạt 5% trở lên thì nhà đầu tƣ có quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp. Tóm lại, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay 10 một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn”. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia.
Đây là đặc trƣng nổi bật và rõ nét nhất của dòng vốn FDI, luồng vốn FDI thông thƣờng đƣợc chảy từ nƣớc thừa tƣ bản sang nƣớc thiếu tƣ bản, do đó làm tăng lƣợng tiền và tài sản của nền kinh tế nƣớc tiếp nhận, làm giảm lƣợng tiền và tài sản của nƣớc đi đầu tƣ. Tài sản ở đây không chỉ là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu mà còn bao gồm cả tài sản vô hình nhƣ phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, bí quyết kĩ thuật, kỹ năng quản lý…FDI không di chuyển vốn thuần túy mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tƣ về các đối tƣợng sở hữu. Thứ hai, FDI đƣợc thực hiện chủ yếu bằng vốn tƣ nhân: các chủ đầu tƣ tự quyết định đầu tƣ, quyết định sản xuất kinh doanh với mục tiêu cơ bản là thu lợi nhuận. Do vậy, FDI không để lại gánh nặng nợ trực tiếp cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, là những dự án đầu tƣ dài hạn (từ 10 năm trở lên) ở nƣớc nhận đầu tƣ nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn.
Thứ ba, FDI đƣợc tiến hành dƣới nhiều hình thức đa dạng Theo hình thức thâm nhập, FDI đƣợc chia thành 2 loại: đầu tƣ mới và mua lại, sáp nhập qua biên giới. (i) Đầu tƣ mới là hoạt động đầu tƣ trực tiếp vào cơ sở sản xuất hoàn toàn mới ở nƣớc ngoài, hoặc mở rộng cơ sở đã tồn tại. Hình thức này thƣờng tạo ra cơ sở sản xuất mới, tạo công ăn việc làm mới cho nƣớc chủ nhà. Đây là hình thức FDI truyền thống, chủ yếu để nhà đầu tƣ ở nƣớc phát triển đầu tƣ vào nƣớc đang và kém phát triển.
(ii) Mua lại và sáp nhập qua biên giới là hình thức liên quan đến việc mua lại, hợp nhất với một doanh nghiệp nƣớc ngoài đang hoạt động. Hình thức này đƣợc thực hiện rộng rãi ở những nƣớc phát triển, nƣớc mới công nghiệp hóa và phát triển mạnh trong những năm gần đây. Theo mức độ tham gia vốn vào dự án đầu tư, có 4 hình thức FDI: doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh Theo mục đích của nhà đầu tư, FDI gồm có đầu tƣ theo chiều ngang và đầu tƣ theo chiều dọc. (i) Đầu tƣ theo chiều ngang là loại đầu tƣ mà công ty sao chép toàn bộ hoạt động, thiết lập nhà máy ở nƣớc ngoài giống hệt hoạt động của công ty trong nƣớc, tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm và hàng hóa ở nhiều nƣớc khác nhau.
Nhà đầu tƣ mở rộng, thôn tính thị trƣờng nƣớc ngoài cũng một loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Hình thức này thƣờng dẫn đến độc quyền lợi nhuận cao nhƣng rủi ro thấp. (ii) Đầu tƣ theo chiều dọc là loại đầu tƣ mà công ty xác định từng giai đoạn sản xuất ở 11 các quốc gia khác nhau, chuyên sâu vào một, một vài mặt hàng, mỗi loại mặt hàng đƣợc đầu tƣ sản xuất từ A đến Z, công ty chia tách hoạt động của mình theo chức năng và có thể quyết định đặt tất cả sản xuất của mình đối với một chi tiết, thành phần cụ thể trong một nhà máy ở nƣớc ngoài. Hình thức này đƣợc sử dụng khi mục đích của nhà đầu tƣ là khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên, yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai, tài nguyên).
Hình thức này đem lại lợi nhuận cao vì khai thác đƣợc ở tất cả các khâu, nhƣng rủi ro cao và thị trƣờng không rộng. Việc quy định các hình thức với FDI phụ thuộc vào quan điểm, quy định của từng quốc gia, tuy nhiên về cơ bản FDI bao gồm hình thức DN 100% vốn nƣớc ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Thứ tư, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là ngƣời chủ sở hữu hoàn toàn (sở hữu 100% vốn đầu tƣ) hoặc đồng sở hữu vốn (thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc góp vốn thông qua mua cổ phần). Đây là yếu tố quyết định đầu tƣ và quản trị doanh nghiệp.
Việc đảm bảo tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trở thành những chi nhánh của các công ty ở nƣớc nhận đầu tƣ. Đây là yếu tố làm tăng tính toàn cầu của mạng lƣới các công ty đi đầu tƣ và tạo cơ sở để các công ty đó thực hiện hoạt động chu chuyển vốn, hàng hóa trong nội bộ công ty, tránh đƣợc hàng rào thuế quan, tiết kiệm chi phí giao dịch. Đặc trƣng này để phân biệt sự khác nhau giữa FDI với hoạt động thƣơng mại, gia công quốc tế. Thứ năm, FDI thƣờng đi kèm với việc đào tạo, chuyển giao sử dụng và quản lý công nghệ, kỹ thuật hiện đại, lĩnh hội phƣơng thức quản lý tiên tiến.
FDI thƣờng đƣợc thực hiện bởi các nhà đầu tƣ từ những nƣớc công nghiệp phát triển có trình độ khoa học công nghệ cao, vì vậy FDI là một trong những kênh quan trọng cho nƣớc đang phát triển có cơ hội đƣợc tiếp nhận công nghệ hiện đại, học tập kinh nghiệm quản lý. Công nghệ ở đây hàm chứa dƣới các hình thức nhƣ: máy móc, trang thiết bị, phát minh sáng chế, tài liệu nghiên cứu đƣợc mang vào khi nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bắt đầu đầu tƣ hay nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của dự án FDI. Thứ sáu, TNCs có vai trò quan trọng đối với hoạt động FDI. Đây là những tập đoàn lớn có hệ thống các chi nhánh sản xuất kinh doanh ở nƣớc ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ cao, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và danh tiếng lớn toàn cầu, tính năng động cao, đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao.
Theo quan điểm của các lý thuyết vi mô, FDI ban đầu do các công ty xuyên quốc gia của các nƣớc công nghiệp phát triển đầu tƣ vào các nƣớc thuộc địa để khai thác nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ và nguồn lao động rẻ…Sau đó, xuất hiện các hoạt động đầu tƣ lẫn 12 nhau giữa các nƣớc phát triển với nhau và tiếp đó là dòng vốn di chuyển từ các nƣớc đang phát triển ra nƣớc ngoài. Mặt khác trong xu hƣớng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, FDI là công cụ, phƣơng tiện để thực hiện chiến lƣợc kinh doanh, mở rộng hoạt động ra thị trƣờng quốc tế.