phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tƣ trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam. - Chƣơng 2: Thực trạng đầu tƣ trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam. - Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp tăng cƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam trong thời gian tới. 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1.1 Khái niệm Khái niệm FDI đã đƣợc nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đƣa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thƣơng mại, đầu tƣ quốc tế, phân loại và sử dụng trong công tác thống kê quốc tế.
Khái niệm về FDI đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay do Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra dựa trên khái niệm về cán cân thanh toán. Theo IMF thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. [7, tr100] Khái niệm này nhấn mạnh đến tính lâu dài trong hoạt động đầu tƣ và động cơ của các nhà đầu tƣ là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và mở rộng thị trƣờng. Đây là sự phân biệt giữa FDI và đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FPI) trên thị trƣờng vốn trong nền kinh tế hiện đại.
OECD cũng đƣa ra định nghĩa về FDI tƣơng tự nhƣ IMF. Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Theo quan điểm của OECD, “nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài”. [11, tr243] Định nghĩa này có hai đặc trƣng là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế.
Về quyền kiểm soát thì hầu nhƣ đã đạt đƣợc sự nhất trí của các nhà nghiên cứu về FDI; còn lợi ích khống chế thì đang có những ý kiến khác nhau, nhƣng hiện nay nhiều ngƣời đã thừa nhận rằng một công ty nƣớc ngoài có tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì có ảnh hƣởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lƣợc kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trong khái niệm FDI này, các tác giả nhấn mạnh mức độ ảnh hƣởng của nhà đầu tƣ đến việc quản lý các doanh nghiệp đặt tại các nền kinh tế khác. Chẳng hạn nhƣ đầu tƣ bao hàm công việc quản lý kinh doanh ban đầu giữa hai bên và công việc quản lý kinh doanh sau đó giữa chúng cũng nhƣ giữa các chi nhánh nƣớc ngoài, bao gồm cả các chi nhánh đã hợp thành tổ chức hay không có tính chất pháp nhân. FDI cũng có thể đƣợc thực hiện bằng các cá nhân, cũng có thể thực hiện bởi các doanh nghiệp.
Tƣơng tự nhƣ vậy, Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) đã đƣa ra định nghĩa về FDI nhƣ sau: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp chủ đầu tư là doanh nghiệp ở nước đầu tư thì được gọi là “công ty mẹ” và 8 z các tài sản đầu tư ở nước nhận đầu tư được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
[70] Hoa Kỳ - một trong những nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và tiến hành đầu tƣ lớn nhất trên thế giới - cũng đƣa ra định nghĩa về FDI là: “Sự sở hữu hoặc kiểm soát, trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi một cá nhân hay tổ chức nước ngoài với 10% cổ phần trở lên trong doanh nghiệp có tính pháp nhân hoặc lãi suất tương đương trong doanh nghiệp không có tính pháp nhân”. Có thể nhận biết FDI theo quan điểm của Hoa Kỳ. [21] Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1996 định nghĩa: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. [4, tr8] Khác với Luật ĐTNN năm 1996, Luật Đầu tƣ 2005 đã đƣa ra định nghĩa ĐTNN nhƣ sau: “ĐTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.
[5, tr10] Tuy nhiên, Luật Đầu tƣ 2005 lại không đề cập cụ thể đến khái niệm FDI, FPI mà chỉ đƣa ra khái niệm đầu tƣ trực tiếp. Theo đó, khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và than gia quản lý hoạt động đầu tư”. [5, tr8] Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài chỉ rõ: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. [26] Các khái niệm khác nhau về FDI đều thống nhất ở các điểm nhƣ: FDI là hình thức đầu tƣ quốc tế, cho phép các nhà đầu tƣ tham gia điều hành hoạt động đầu tƣ ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ tuỳ theo mức góp vốn của nhà đầu tƣ.
Trong đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng 9 z tài sản đầu tƣ, nghĩa là nhà đầu tƣ có thể có lợi hơn khi đầu tƣ thu đƣợc lợi nhuận cao và chịu rủi ro hơn khi đầu tƣ thua lỗ. Qua phân tích ở trên, có thể hiểu khái niệm FDI nhƣ sau: “FDI là hình thức đầu tư của một tổ chức hoặc cá nhân tại nước đi đầu tư bỏ vốn vào nước nhận đầu tư để thành lập và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp FDI hoặc các chi nhánh công ty nhằm mục tiêu lợi nhuận”.2 Đặc điểm Bản chất của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thông qua di chuyển vốn (bằng tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài) từ nƣớc đi đầu tƣ đến nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Nhà đầu tƣ ở đây bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tƣ khi cho rằng khoản đầu tƣ đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ. Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia.
Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nƣớc mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tƣ. Ngoài ra, FDI còn có một số đặc điểm nhƣ sau: - FDI thƣờng đƣợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau. - Nguồn vốn FDI bao gồm vốn góp để hình thành vốn pháp định, vốn vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp để triển khai mở rộng dự án. Các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn 10 z pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nƣớc để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tƣ.
Luật các nƣớc thƣờng quy định không giống nhau về vấn đề này. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đƣợc phân chia dựa vào tỷ lệ này. - Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia quản lý và điều hành quá trình thực hiện vận hành dự án đầu tƣ tuỳ theo tỷ lệ góp vốn. Nếu nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ 100% vốn thì công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp điều hành hoặc thuê ngƣời quản lý điều hành.
- Việc tiếp nhận FDI không làm tăng nợ cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ mà ngƣợc lại, FDI tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nƣớc. Thông qua hoạt động FDI, nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có thể tiếp thu khoa học công nghệ, bí quyết kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý hiện đại của nƣớc đi đầu tƣ hoặc nƣớc đi đầu tƣ sẽ tận dụng đƣợc sự ƣu tiên, điều kiện thuận lợi mà nƣớc tiếp nhận đầu tƣ trực tiếp dành cho mình để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực trình độ cao, phƣơng tiện đầu tƣ… mà khi đầu tƣ trong nƣớc sẽ không có đƣợc. Đối với nƣớc đi đầu tƣ, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài giúp cho doanh nghiệp thay đổi đƣợc dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nƣớc mình nhƣng dễ đƣợc chấp nhận ở nƣớc có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất. - Lợi nhuận thu đƣợc từ kết quả hoạt động đầu tƣ, lãi hoặc lỗ đƣợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp khác cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ theo quy định của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.