Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nội dung chƣơng này nhằm cung cấp những lý luận chung về ĐTTTRNN (khái niệm, hình thức đầu tƣ, tính tất yếu, lợi ích và hạn chế, những yếu tố ảnh hƣởng tới đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài). Bên cạnh đó, chƣơng 1 nghiên cứu kinh nghiệm ĐTRNN của Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào một số nước ASEAN Chƣơng 2 trình bày nhân tố tác động tới ĐTTTRNN của Việt Nam, khái quát tình hình tình ĐTTTRNN của Việt Nam trong giai đoạn 1989-2014, nghiên cứu thực trạng ĐTTT của Việt Nam vào Lào, Campuchia, Malaysia - là những nƣớc ASEAN nhận nhiều vốn đầu tƣ từ Việt Nam nhất, để tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của hoạt động ĐTTT của Việt Nam vào ASEAN Chương 3: Giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào ASEAN.
Chƣơng 3 giải đáp vấn đề làm sao để khắc phục những hạn chế và thúc đẩy hoạt động ĐTTTRNN của Việt Nam. Bằng việc trình bày quan điểm định hƣớng ĐTTTRNN đồng thời nhìn nhận các triển vọng và thách thức trong hoạt động này trong thời gian tới, chƣơng 3 đề xuất những giải pháp phù hợp từ phía nhà nƣớc và từ phía doanh nghiệp nhằm thúc đẩy hoạt động ĐTRNN vào khu vực này. 8 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1.1 Lý luận chung về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo hiệp hội Luật quốc tế (1966): Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. Khái niệm này nhấn mạnh hoạt động quản lý của chủ đầu tƣ, đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt ĐTTTNN với các loại hình đầu tƣ quốc tế khác nhƣ đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài, viện trợ phát triển hay tín dụng quốc tế.
Trong ĐTTTNN, chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và tự chịu trách nhiệm về hoạt động mà mình bỏ vốn ra. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993), Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc định nghĩa là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Khái niệm về ĐTTTNN của IMF nhấn mạnh lợi ích lâu dài, cũng chính là mục tiêu của hoạt động ĐTTTNN của các nhà đầu tƣ. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996) đƣa ra khái niệm: một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết.
Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty. Khái niệm này bổ sung điều kiện để trở thành một nhà ĐTTTNN, là việc nhà đầu tƣ đó phải sở hữu ít nhất 10% số cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp ở nƣớc sở tại. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định ĐTTTNN. Trong thực tế có những trƣờng hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tƣ nhỏ hơn 10% nhƣng họ vẫn đƣợc quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhƣng vẫn chỉ là ngƣời đầu tƣ gián tiếp.
9 z Theo Luật đầu tƣ Việt Nam (2005): Khoản 14 Điều 3 quy định: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Tuy nhiên, Luật đầu tƣ mới ban hành năm 2014 không phân biệt giữa khái niệm đầu tƣ trực tiếp và gián tiếp mà thay bằng khái niệm chung là đầu tƣ kinh doanh. Tại Điều 3, khoản 5 của Luật này chỉ rõ “Đầu tƣ kinh doanh là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tƣ góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tƣ.” Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình”. Tài sản bao gồm tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị …) và tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…).
Nhƣ vậy đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài với hai đặc trƣng cơ bản là: có sự dịch chuyển tƣ bản trong phạm vi quốc tế, và chủ đầu tƣ (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tƣợng đầu tƣ.2 Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài Các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài bao gồm: - Hình thức 100% vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nƣớc sở tại (nƣớc nhận đầu tƣ). Là một pháp nhân kinh tế của nƣớc sở tại, doanh nghiệp phải đƣợc đầu tƣ, thành lập và chịu sự quản lý nhà nƣớc của nƣớc sở tại. Với hình thức này, nhà đầu tƣ phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Hình thức 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có ƣu điểm là nƣớc chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh đƣợc những rủi ro 10 z trong kinh doanh, thu ngay đƣợc tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chủ động đầu tƣ và để cạnh tranh, họ thƣờng đầu tƣ công nghệ mới, phƣơng tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề ngƣời lao động. Tuy nhiên, nó có nhƣợc điểm là nƣớc chủ nhà khó tiếp nhận đƣợc kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát đƣợc đối tác đầu tƣ nƣớc ngoài và không có lợi nhuận. - Hình thức liên doanh giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Đây là hình thức đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trƣớc tới nay. Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) là doanh nghiệp đƣợc thành lập tại nƣớc sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để đầu tƣ kinh doanh tại nƣớc sở tại.
Nhƣ vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhƣng địa điểm đầu tƣ phải ở nƣớc sở tại. Hình thức DNLD có những ƣu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nƣớc sở tại tranh thủ đƣợc nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhƣng lại đƣợc chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho ngƣời lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nƣớc ngoài; Nhà nƣớc của nƣớc sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát đƣợc đối tác nƣớc ngoài. Về phía nhà đầu tƣ, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trƣờng nƣớc ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trƣờng mới. Tuy nhiên, hình thức này có nhƣợc điểm là thƣờng dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp - Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa các nhà đầu tƣ nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Hình thức đầu tƣ này có ƣu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trƣờng mới, bảo đảm đƣợc quyền điều hành dự án của nƣớc sở tại, thu lợi nhuận tƣơng đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhƣợc điểm là nƣớc sở tại 11 z không tiếp nhận đƣợc kinh nghiệm quản lý; công nghệ thƣờng lạc hậu; chỉ thực hiện đƣợc đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời nhƣ thăm dò dầu khí. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nƣớc sở tại. Do đó, về phía nhà đầu tƣ, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC.
Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rƣờm rà nên thƣờng đƣợc lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nƣớc đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hƣớng giảm. - Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT BOT là hình thức đầu tƣ đƣợc thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tƣ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nƣớc sở tại. BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tƣ, khai thác, chuyển giao đƣợc đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nƣớc; lĩnh vực đầu tƣ là các công trình kết cấu hạ tầng nhƣ đƣờng sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nƣớc.; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nƣớc.