PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Được ký kết vào ngày 29/12/2020, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Vương quốc Anh (UKVFTA) là một cam kết thiện chí, giúp đưa mối quan hệ giữa hai quốc gia, Việt Nam và UK, vươn tầm đối tác chiến lược. Bởi UKVFTA là hiệp định đàm phán hậu Brexit (tức sau khi UK rời khỏi EU và sau khi EU cùng Việt Nam đàm phán và ký kết thành cộng Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA)), tính chất kế thừa và chuyển đổi bổ sung của UKVFTA dễ dàng thể hiện tính tương đồng cao của hiệp định với EVFTA. Các nghiên cứu sử dụng mô hình SMART thường tập trung vào phân tích vấn đề xuất – nhập khẩu giữa hai quốc gia, có thể kể đến như nghiên cứu của Guei, Mugano, & Le Roux (2017) về ảnh hưởng thương mại của FTA giữa EU và Nam Phi, hay giữa EU và Malawi cùng Tanzania (Zgovu & Kweka, 2008).
Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu khác về ảnh hưởng của hiệp định giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Những nghiên cứu này có thể kể đến như nghiên cứu về nhóm ngành dược phẩm (Vu, 2016), ngành ô tô (Vu & Pham, 2017), hay như nghiên cứu về tác động của EVFTA tới nhóm sản phẩm nông nghiệp (bao gồm cả thủy sản) (Doan & Dac, 2021), tới nhóm sản phẩm hoa quả (Tran & các cộng sự, 2021), và tác động tới các sản phẩm nông nghiệp (Nguyen & Trinh, 2020). Các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới được kỳ vọng mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Do vậy, các nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của FTA đến nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách.
Có nhiều mô hình đo lường và đánh giá được áp dụng để nghiên cứu tác động của các FTA tới vấn đề thương mại giữa các thành viên hiệp định, có thể kể đến phổ biến như mô hình cân bằng chung (CGE) và mô hình cân bằng riêng (partial equilibrium model) dựa trên lý thuyết kinh tế quốc tế, hay như mô hình trọng lực, một dạng mô hình kinh tế lượng. Trong đó, mô hình cân bằng chung được sử dụng trong một số nghiên cứu với mục đích: (i) đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do tới nền kinh tế của các thành viên như tham gia hiệp định, ví dụ: FTA giữa Ấn Độ và các quốc gia vùng vịnh Ả Rập (Ismail & Ahmed, 2019), hay EVFTA giữa Việt Nam và EU (Le & Nguyen, 2019); (ii) đánh giá tác động của nhiều FTA tới nền kinh tế của một hay nhiều quốc gia, như nghiên cứu về ảnh hưởng của các FTA Nhật Bản từng ký kết tới kinh tế thương mại Nhật Bản (Kawasaki, 2003), các FTA Việt Nam đã ký tới kinh tế Việt Nam (Kikuchi, Yanagida, & Huong, 2018), hay của các FTA mới hơn như CPTPP và EVFTA (Maliszewska, Pereira, Osorio-Rodarte, & Olekseyuk, 2020). Mô hình trọng lực cũng áp dụng phổ biến để đo lường tác động của FTA tới nền kinh tế như ở nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Quang Huy (2015), hay Dao Dinh (2020). 2 Nghiên cứu của P.
Vanzetti áp dụng lý thuyết mô hình cân bằng chung chỉ ra, EVFTA hỗ trợ UK tăng khả năng tiếp cận các thị trường mới nhờ vào việc giảm các rào cản thuế quan cũng như làm tăng cơ hội mở rộng thị trường đầu tư từ phía EU nói chung và UK nói riêng. Ước tính, tới năm 2030, EVFTA sẽ tăng 0,01% GDP (tới 391 triệu bảng Anh) và 1,2% GDP (tới 1,6 tỷ bảng Anh) cho lần lượt hai quốc gia UK và Việt Nam, khi so sánh với việc không có tác động của hiệp định (Baker & Vanzetti, 2019). Trong khi mô hình CGE và mô hình trọng lực được dùng để tính những tác động của FTA tới nền kinh tế nói chung, các mô hình cân bằng riêng như mô hình SMART thường giúp đánh giá tác động của FTA tới một ngành hàng cụ thể giữa hai nền kinh tế thành viên. Với dữ liệu về xuất nhập khẩu giữa hai nền kinh tế khi thay đổi thuế quan trước và sau một hiệp định, nghiên cứu sử dụng mô hình SMART đo lường tác động trước và sau của các chính sách thuế quan trong một FTA song phương tới thị trường ngành hàng nghiên cứu của nền kinh tế thành viên.
Các nghiên cứu sử dụng mô hình SMART thường tập trung vào phân tích vấn đề xuất – nhập khẩu giữa hai quốc gia, có thể kể đến như nghiên cứu của Guei, Mugano, & Le Roux (2017) về ảnh hưởng thương mại của FTA giữa EU và Nam Phi, hay giữa EU và Malawi cùng Tanzania (Zgovu & Kweka, 2008). Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu khác về ảnh hưởng của hiệp định giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Những nghiên cứu này có thể kể đến như nghiên cứu về nhóm ngành dược phẩm (Vu, 2016), ngành ô tô (Vu & Pham, 2017), hay như nghiên cứu về tác động của EVFTA tới nhóm sản phẩm nông nghiệp (bao gồm cả thủy sản) (Doan & Dac, 2021), tới nhóm sản phẩm hoa quả (Tran & các cộng sự, 2021), và tác động tới các sản phẩm nông nghiệp (Nguyen & Trinh, 2020). (2020) đã nghiên cứu về tác động của EVFTA tới việc xuất khẩu sản phẩm nông sản Việt Nam sang thị trường EU, sử dụng công cụ SMART để đánh giá một cách định tính về độ tác động của EVFTA vào toàn bộ mặt hàng nông sản Việt Nam tới thị trường EU.
Trong đó, nhóm tác giả cho thấy, EVFTA có tác động tích cực tới mặt hàng nông sản Việt Nam, giúp Việt Nam có mức tăng trưởng xuất khẩu tăng tới hơn 37,532 triệu USD, với tác động tạo lập thương mại tới 40,7%, cao hơn so với tác động chuyển hướng thương mại tới nông sản xuất khẩu, từ đó, đưa ra một số những khó khăn và thách thức cũng như những kiến nghị cho doanh nghiệp và chính phủ: Nghiên cứu của Tran, D. (2021) về tác động của EVFTA tới dòng chảy thương mại của sản phẩm hoa quả giữa Việt Nam và EU bằng cộng cụ SMART. Khác với Nguyen, T. (2020), nghiên cứu này tập trung chuyển sâu vào một nhóm mặt hàng nông sản, phân tích số liệu xuất nhập khẩu của mặt 3 hàng hoa quả giữa Việt Nam – EU.
Tại nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tổng hợp một cách có hệ thống và sâu sắc về lý thuyết đằng sau mô hình nghiên cứu SMART và nêu rõ những điểm lợi cũng như hạn chế của SMART được phát triển bởi Ngân hàng Thế giới, cũng như áp dụng nó vào trường hợp xuất nhập khẩu mặt hàng hoa quả tại thị trường Việt Nam – EU để xây dựng ra một khung đánh giá tiêu chuẩn về tác động của các hiệp định FTA dựa trên những lý thuyết liên quan tới FTA và thực tế thị trường kinh tế Việt Nam. Tuy đã có nhiều nghiên cứu áp dụng mô hình SMART với EVFTA, một hiệp định có tính gần gũi và tương đồng cao với UKVFTA, cũng như các FTA ký kết giữa EU và một quốc gia khác, các nghiên cứu có tính định lượng về ảnh hưởng thương mại của hiệp định thương mại tự do giữa UK và các nước là rất ít, chỉ có thể kể tới nghiên cứu của (Chaudhuri & Chakraborty, 2021). Bởi tính mới của Brexit và việc ký kết các FTA với các quốc gia hậu Brexit của UK, nghiên cứu này của các tác giả là một trong số ít các nghiên cứu định lượng về tác động của UKVFTA tới thương mại giữa Việt Nam và UK. Lý do lựa chọn đề tài Thủy sản là một trong những ngành có sự phát triển mạnh mẽ và ổn định, có lợi thế cạnh tranh rất lớn đối với các quốc gia khác của Việt Nam.
Theo bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam, trong giai đoạn từ 2010-2019, cơ cấu ngành thủy sản trên toàn ngành nông nghiệp tại Việt Nam tăng từ 17,8% lên 24,4%. Trong đó, tới năm 2019, sản lượng thủy sản ước đạt 8,15 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8,6 tỷ USD (Thu Hiền, 2020). Tới năm 2021, theo báo cáo gần đây nhất của đến từ tổng cục Thủy sản Việt Nam, xuất khẩu Việt Nam, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 8,89 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ của năm trước, và hơn 4,6% so với kế hoạch đặt ra (Nguyễn Hạnh, 2021). Những sự phát triển thành công và đầy cố gắng này càng làm nổi rõ quyết tâm từ phía chính phủ cũng như doanh nghiệp thủy sản trong mục tiêu đạt được vị trí trong số năm quốc gia hàng đầu thế giới về thủy sản năm 2030 (Văn phòng Chính phủ, 2021).
Việt Nam xuất khẩu thủy sản tới 164 quốc gia, trong đó, vào năm 2020, theo trang thông tin điện tử của Tổng cục Thủy sản Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Anh đạt khoảng 355 triệu USD, đứng thứ bảy trong top những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang UK năm 2020. Triển vọng phát triển xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang UK tiếp tục nặng cao khi tới tháng 8 năm 2021, thị trường UK đứng thứ năm trong danh sách những thị trường xuất khẩu thủy sản nhiều nhất của Việt Nam (Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, 2021). Điều này có được là do xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang UK (và cả EU) tăng cao sau hiệp định UKVFTA (cũng như EVFTA). Hơn nữa, theo nhiều nhận định của các 4 chuyên gia trong ngành thủy sản, dư địa và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường UK là rất lớn.
Điều này không chỉ nằm ở nhu cầu tiêu thụ thủy sản của UK cao do truyền thống và thói quen được tạo lập bởi lịch sử văn hóa và vị trí địa lý, mà còn là do nguồn cung thủy sản nội địa từng dồi dào tại UK đã bị giảm sút bởi việc áp dụng chính sách khai thác bền vững của chính phủ UK bắt đầu từ năm 1983. Bởi vậy, UK dần giảm bớt lượng đánh bắt và nhập khẩu thủy sản từ các quốc gia khác. Cho tới nay, UK nhập khẩu thủy sản nhiều hơn xuất khẩu và hầu hết các mặt hàng thủy sản tiêu dùng tại UK là hàng nhập khẩu, trong khi đó, thủy sản UK đa phần dùng để xuất khẩu sang các quốc gia khác (Leiva, 2021). Như đã nêu, thủy sản Việt Nam rất có cơ hội phát triển tại thị trường UK, đặc biệt sau khi hiệp định UKVFTA đi vào hiệu lực.