đặt vấn đề nghiên cứu về sự hình thành thương mại khu vực. Trong số đó, Pinder J. (1969) trong “Problem of European integration in Economic Integration in Europe” đã đưa vấn đề nghiên cứu về thương mại quốc tế giữa các quốc gia Châu Âu thành chủ đề chính. Ở đây, ông đã đưa ra quan điểm về thương mại khu vực, về vai trò, tác động của thương mại khu vực đối với các nước thành viên.
Ông còn chỉ ra những vấn đề mà các chính phủ phải đối mặt khi thương mại thúc đẩy hình thành Cộng đồng kinh tế Châu Âu. Sachin Chaturved, ISBN: 81-7122-141-6, Published in 2019 by RIS (Research and information system for Developing Countries) trong “Effects of FTAs on Balance of Trade and FDI”. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu xem các hiệp định thương mại tự do (FTA) có tác động đến cán cân thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước tham gia vào thỏa thuận. Nghiên cứu trình bày trường hợp của Nam Phi, Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Các phân tích mặc dù cho thấy, cán cân thương mại tiêu cực của Nam Phi trong hiệp định thương mại tự do song phương trước năm 2012 khi thỏa thuận đi vào hoạt động; không có sự khác biệt nào sau một vài năm thực hiện FTA. Bên cạnh đó, xu hướng FDI của Nam Phi không cho thấy hiệu quả tích cực của FTA. Đối với ASEAN, phân tích cho thấy sự tăng thương mại nội bộ; tuy nhiên sự tăng trưởng của liên thương mại xuất hiện cao hơn so với thương mại nội bộ. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng bên 14 cạnh các thỏa thuận, các FTA có xu hướng thúc đẩy cả thương mại và FDI nếu tất cả các thỏa thuận chiến lược là được thực hiện như trong trường hợp của ASEAN-FTA.
TomooKikuchi, KensukeYanogida, HuongVo trong “The effects of Mega- Regional TradeAgreements on Vietnam”. Trong khi hầu hết các nghiên cứu kết luận rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương, đứng vững từ việc tham gia vào các khuôn khổ khu vực vẫn còn đầy triển vọng khác; Hiệp định toàn diện và tiến bộ cho quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương, quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực, và Khu vực thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương. Nghiên cứu này phân tích thách thức của Việt Nam khi nền kinh tế có khả năng bị ảnh hưởng bởi các quy định trong khuôn khổ hiệp định. Các tác giả áp dụng một mô hình nghiên cứu kết hợp các tác động của vốn, cung ứng lao động thay đổi, và tăng trưởng năng suất bắt nguồn từ tự do hóa thương mại.
Nhóm tác giả cũng phân tích về thu nhập trung bình, các yếu tố tăng trưởng của Việt Nam và rút ra ý nghĩa chính sách.Peter Van Pergeijk & Pro. (2017) trong “The impart of Asean Free Trade Agreement on Asean Member’s Export” đã đưa ra những kết luận trong nghiên cứu: những thỏa thuận tự do khu vực đã chiếm hơn nửa giá trị thương mại quốc tế trên thế giới từ những năm đầu thập kỷ 90. Khu vực thương mại tự do ASEAN ra đời nhằm cải thiện hiệu quả kinh tế khu vực, trong đó khuyến khích xuất khẩu là ưu tiên chính trong việc tăng trưởng kinh tế. Thỏa thuận thương mại tự do làm tăng cường hiệu quả về thương mại hàng hóa giữa các quốc gia.
Để phân tích ảnh hưởng của AFTA đến hiệu quả xuất khẩu của các quốc gia ASEAN, nghiên cứu đã sử dụng hệ thống phân tích số liệu của 60 quốc qua, cả những quốc gia là thành viên và không là thành viên của AFTA. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được những tác động ảnh hưởng của của AFTA tới các quốc gia thành viên của ASEAN. David Vanzetti, Christinan Knebel and Ralf Peter, với nghiên cứu “Non- tariff measures and Reagional Intergration in Asean”, Twenty first Annual Conference on Global Economic Analysis, Cartagena, Columbia, June 13-15th, 2018. Kết quả nghiên cứu đã nêu rõ: Trong khi thuế quan đã được giảm đáng kể 15 theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), thì một số ít công cụ phi thuế quan (NTM) đã được thực hiện và kết quả là, đã có sự tăng trưởng trong thương mại nội khối.
Một nghiên cứu do UNCTAD dẫn nghiên cứu (Ing et al. 2016) đã ghi nhận các NTM hiện tại trong khu vực ASEAN, có nhiều NTM là hợp pháp, chẳng hạn như các biện pháp bảo vệ sức khỏe và môi trường, nhiều người; bảo vệ các nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nhập khẩu. Sáu quốc gia trong ASEAN có 100% hàng nhập khẩu của họ được bảo hộ bởi một NTM hoặc một quốc gia khác. Đối với các NTM kỹ thuật (SPS và TBT), tác giả đo lường sự tương đồng trong các quy định giữa hai loại khác nhau các nước.
Sử dụng mô hình trọng lực để giải thích các giá trị đơn vị thương mại. Đối với các rào cản phi kỹ thuật, như hạn ngạch hoặc kiểm soát giá, tác giả đã ước tính định lượng tác động thương mại của các NTM này bằng cách sử dụng tổng quát tính toán mô hình cân bằng. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng việc hài hòa các NTM kỹ thuật và loại bỏ các NTM phi kỹ thuật hoàn toàn sẽ làm tăng phúc lợi ròng cho các nước ASEAN thêm 3 tỷ USD nếu các rào cản chỉ giảm trên thương mại nội khối ASEAN. Rinando Aidil Fitrio trong “The effect of Joining free Trade Union on Export and import in Asean Countries”, JIAP Vol 5, No2, pp 227-235, 2019, ISSN 2302-2698; e-ISSN 2503-2887.
Thương mại tự do là giai đoạn quan trọng trong việc tăng cường xuất khẩu và nhập khẩu. Một hình thức của thương mại tự do là Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thành lập năm 1992 và có 10 quốc gia thành viên. Ngược lại, có những nghiên cứu trước đây cho thấy thương mại tự do có thể cũng có tác động tiêu cực đến thương mại giữa các quốc gia. Nghiên cứu này cố gắng phân tích mối quan hệ của AFTA đối với xuất khẩu và nhập khẩu của các quốc gia thành viên sử dụng dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới giai đoạn 1985 đến 2015.
Phân tích sử dụng hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình bảng động. Các mô hình bảng động được sử dụng để xác định mối quan hệ ngắn hạnvà lâu dài của AFTA về xuất khẩu và nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có những tác động tích cực và có ý nghĩa của AFTA đối với xuất khẩu và nhập khẩu của ASEAN. 16 Như vậy, mỗi công trình phân tích thương mại quốc tế và thương mại khu vực trong một khía cạnh khác nhau nhưng có quan điểm chung về việc cần thiết tăng cường thúc đẩy và hợp tác thương mại quốc tế và thương mại khu vực.
Thương mại quốc tế nói chung và thương mại khu vực nói riêng là nền tảng cho những hợp tác sâu rộng về mọi mặt kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Để thực hiện điều đó, các quốc gia cần phải xóa bỏ các rào cản, tạo điều kiện cho tự do hóa di chuyển hàng hóa và dịch vụ. Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu về vấn đề thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa giữa các quốc gia. Các nhà nghiên cứu Việt Nam mặc dù không đưa ra một lý thuyết riêng về thương mại quốc tế và khối thương mại khu vực như những nhà nghiên cứu nước ngoài nhưng họ lại có thành công trong việc tổng hợp và xây dựng một khung lý thuyết rõ ràng về vấn đề này.
Những cuốn giáo trình “Kinh tế quốc tế” của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng. (2012) đã đưa ra được đầy đủ các khái niệm cũng như phân tích về các lý thuyết mà nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra từ các lý thuyết tân cổ điển tới hiện đại. Nhờ đó, các nhà nghiên cứu những vấn đề có liên quan ở Việt Nam đều có một nền tảng vững chắc và đầy đủ làm căn cứ cho các phân tích thực tiễn của mình. Cũng có thể tìm thấy những hệ thống lý thuyết trong cuốn “Quan hệ kinh tế quốc tế” của Võ Thanh Thu.
(2008) với các khái niệm, các cách tiếp cận và quan điểm về thương mại quốc tế, thương mại khu vực. Ở đây, tác giả nêu rõ ràng chính toàn cầu hóa được hình thành từ thương mại quốc tế dẫn đến sự tồn tại của các khối kinh tế khu vực và xu hướng phát triển của những khối kinh tế này trên thực tế hiện nay. Nguyễn Xuân Thiên. Giáo trình thương mại quốc tế.
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuốn giáo trình đề cập toàn bộ những kiến thức cơ bản của thương mại quốc tế như: Những vấn đề chung về thương mại quốc tế, các lý thuyết thương mại quốc tế từ cổ điển đến hiện đại, các công cụ của chính sách thương mại quốc tế, vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vấn đề tự do hóa thương mại khu vực và toàn cầu; 17 đồng thời phân tích một số vấn đề cơ bản về chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, thu hút nhiều quốc gia tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, trong đó thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng, được nhiều quốc gia quan tâm và được sử dụng như động lực cho sự phát triển. Thương mại quốc tế là một trong những hình thức cơ bản của kinh tế quốc tế và không ngừng phát triển cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Đây là cuốn giáo trình đề cập toàn bộ những kiến thức cơ bản của thương mại quốc tế như: Những vấn đề chung về thương mại quốc tế, các lý thuyết thương mại quốc tế từ cổ điển đến hiện đại, các công cụ của chính sách thương mại quốc tế, vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vấn đề tự do hóa thương mại khu vực và toàn cầu; đồng thời phân tích một số vấn đề cơ bản về chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam. Luận án Tiến sĩ của Mai Thế Cường. Luận án đã trình bày khái quát những cải cách về thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Luận án đề cập đến chính sách thương mại quốc tế nói chung của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.TS Phạm Tất Thắng.
Mối quan hề giữa tăng trưởng thương mại với tăng trưởng kinh tế, đề tài nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu đã phân tích và chỉ rõ mối quan hệ tăng trưởng thương mại đối với phát triển kinh tế. Khu Thị Tuyết Mai, Vũ Anh Dũng.