Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia Chương 3: Thực trạng xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2000 - 2016 Chương 4: Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU 18 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng chế biến nói riêng. Trong luận án này, tác giả sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan một cách xâu chuỗi và mang tính phản biện.
Quá trình tổng quan được thực hiện trên hai phương diện, bao gồm phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa. 1 1 1 1 Về ph ơng ph p nghi n u Trên thế giới đã có nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các phân tích thực nghiệm về lĩnh vực thương mại quốc tế. Nhưng tựu chung lại những phương pháp nghiên cứu nói trên có th được chia thành hai nhóm dựa trên hai cách tiếp cận khác nhau. Các tiếp cận thứ nhất dựa vào phương pháp mô phỏng sử dụng mô hình cân bằng tổng th (CGE) đ phân tích ảnh hưởng của những thay đổi về chính sách đối với thương mại.
Cách tiếp cận thứ hai áp dụng phương pháp kinh tế lượng sử dụng dữ liệu thương mại trước đây đ đánh giá tác động của các yếu tố đối với dòng chảy thương mại. - Nhóm các nghi n us ng m h nh n ằng tổng thể: Phương pháp tiếp cận mô phỏng sử dụng mô hình cân bằng tổng th (CGE), bao gồm mô hình cân bằng tổng th tĩnh (CGE) và mô hình cân bằng tổng th động (Dynamic CGE). Các nghiên cứu thuộc nhóm này bao gồm (Chen và cộng sự, 2011 [57]; Cox & Harris, 1992 [60]; Gerard Adams & Park (1995) [87]; Philippidis & Sanjuán, 2007 [129]). Phương pháp tiếp cận mô phỏng được sử dụng đ đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi về chính sách đối với thương mại.
Những thay đổi về chính sách bao gồm việc thành lập khối liên kết ([60]; [129]; Ngeleza & Muhammad, 2015 [122]), tham gia tổ chức thương mại thế giới (Wang, 1999) [168], cắt giảm thuế quan (Asafu‐Adjaye & Mahadevan, 2009) [37] và hàng rào phi thuế quan (Chou, Chu, & Wang, 1997) [58]. Ưu đi m của phương pháp tiếp cận này là cho phép đánh giá tác 19 động của việc thay đổi một chính sách tại một ngành không những đối với ngành đó mà còn đối với các ngành còn lại trong nền kinh tế (khác với phân tích cân bằng cục bộ chỉ cho phép tập trung vào một ngành của nền kinh tế, trong khi bỏ qua các ngành còn lại trong nền kinh tế). Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là khó khăn trong việc lựa chọn mô hình, xác định tham số và dạng hàm (hàm CES hay hàm Cobb Douglas). Thêm vào đó, mô hình sử dụng số liệu của nền kinh tế trong một năm duy nhất làm năm gốc và sau đó thực hiện shock mô hình và so sánh kết quả của nền kinh tế sau khi thực hiện cú shock và trước khi thực hiện cú shock.
Ngoài ra, phương pháp tiếp cận mô phỏng được dựa trên cách tiếp cận tiên đoán (ex ante) nên thường chỉ phù hợp với các nghiên cứu dự báo về kết quả trong tương lai của việc thay đổi chính sách. - Nh m nghi n us ng m h nh kinh t l ợng: Mô hình trọng lực (mô hình Gravity) là một phương pháp tiếp cận khá phổ biến trong thương mại và được sử dụng rộng rãi đ phân tích tác động của các chính sách thương mại khác nhau đối với thương mại song phương giữa các quốc gia. Mô hình này có phương pháp tiếp cận hậu suy (ex post) mà theo đó các tác giả lượng hóa tác động của một hoặc nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại sử dụng số liệu trong quá khứ. Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận này rất phù hợp với những nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của một quốc gia hay xuất khẩu của một nhóm quốc gia trong khối liên kết kinh tế.
Tuy nhiên, mô hình Gravity chỉ tập trung giải thích mô hình thương mại song phương mà không phân tích chi phí về phúc lợi. Hơn thế nữa, khi đánh giá tác động của một hay một vài yếu tố tới dòng chảy thương mại thì kết quả của mô hình sẽ không chính xác nếu không bóc tách được tác động của các nhân tố khác. Đây chính là khó khăn mà các nghiên cứu sử dụng mô hình Gravity mắc phải và trên thực tế nhiều nghiên cứu đã bỏ sót yếu tố (biến) quan trọng khi xây dựng mô hình. Thêm vào đó, kết quả của mô hình cũng sẽ bị chệch nếu trong mô hình xuất hiện hiện tượng đồng thời - đó là biến phụ thuộc và biến độc lập tác động qua lại lẫn nhau.
1 1 1 2 Về k t quả nghi n u Các công trình nghiên cứu có liên quan đã xác lập được mối quan hệ của nhiều yếu tố với xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng chế biến nói 20 riêng. Các yếu tố nói trên có th được chia thành ba nhóm: nhóm các yếu tố liên quan đến điều kiện cung (bao gồm các yếu tố th hiện khả năng cung xuất khẩu), nhóm các yếu tố liên quan đến điều kiện cầu (bao gồm các yếu tố th hiện cầu nhập khẩu) và nhóm các yếu tố cản trở hoặc hấp dẫn. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu bi u. - Fugazza (2004) [85] nghiên cứu về “Th nh t u trong xuất khẩu v y u t ảnh h ng n xuất khẩu: Hạn h về iều ki n ung v ầu”.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng một mô hình Gravity sử dụng số liệu hỗn hợp đại diện cho việc tiếp cận thị trường nước ngoài và khả năng cung của 84 quốc gia. Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu được chia thành nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến xuất khẩu bao gồm khả năng tiếp cận thị trường và một số nhân tố khác ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu. Việc tiếp cận thị trường nước ngoài bị ảnh hưởng bởi các chi phí vận chuy n bao gồm khoảng cách địa lý và cơ sở hạ tầng, các rào cản thương mại và khả năng cạnh tranh.
Các yếu tố bên trong bao gồm các yếu tố liên quan đến điều kiện cung (cung xuất khẩu). Khả năng cung liên quan đến vị trí địa lý bởi lẽ vị trí địa lý ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn nguyên liệu tự nhiên và các nguồn nguyên liệu khác. Tiếp cận công nghệ có khả năng ảnh hưởng đến năng suất của ngành ngoại thương và cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận thị trường các nước ngoài khu vực trở thành nhân tố quan trọng đ giải thích những thành tựu trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của những hiệp định thương mại khu vực. Ngoài ra, những hạn chế trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài là lý do chủ yếu dẫn đến hoạt động xuất khẩu yếu kém. Cơ sở hạ tầng giao thông trong nước và môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi là yếu tố quan trọng th hiện khả năng cung và được cho là có tác động tích cực đối với việc nâng cao hiệu suất xuất khẩu. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng có tác động tích cực và đáng k đối với hoạt động xuất khẩu.
- Hatab và các cộng sự (2010) [91] thực hiện nghiên cứu “C y u t ảnh h ng n xuất khẩu n ng sản Ai C p: Ti p n m h nh Gr vity”. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình Gravity đ phân tích những nhân tố chính ảnh hưởng đến 21 xuất khẩu nông sản của Ai Cập (EAEs) sang 50 nước đối tác thương mại trong giai đoạn 1994 - 2008. Trong nghiên cứu này, phân tích hồi quy được thực hiện dựa trên mô hình số liệu hỗn hợp (panel data model). Kết quả ki m định chỉ ra rằng việc sử dụng mô hình hiệu ứng cố định sẽ cho ra những kết quả đáng tin cậy hơn so với mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu GDP của Ai Cập tăng lên 1% thì xuất khẩu nông sản của Ai Cập cũng tăng lên khoảng 5,42%. Tuy nhiên, sự gia tăng GDP bình quân đầu người của Ai Cập lại làm giảm xuất khẩu. Thương mại hai chiều sẽ tăng lên tương ứng với GDP của các nước đối tác thương mại và giảm khi khoảng cách về mặt địa lý giữa hai quốc gia tăng lên. Ngược lại, GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu lại là yếu tố ảnh hưởng không đáng k đến xuất khẩu nông sản của Ai Cập.
Sự biến động tỷ giá có tác động rõ rệt đến xuất khẩu của Ai Cập. Chi phí vận chuy n, th hiện bằng khoảng cách địa lý, có tác động tiêu cực đến xuất khẩu nông sản. Như vậy, yếu tố logistics là rất quan trọng đối với xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu có th được tăng lên do có sự cải thiện về cơ sở hạ tầng, vận chuy n hàng không trực tiếp và vận tải đường bi n giữa Ai Cập và các đối tác thương mại.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng xuất khẩu nông sản của Ai Cập sang các nước sử dụng chung ngôn ngữ tiếng Ả rập có xu hướng tăng. Mặc dù vậy, việc trở thành thành viên của các hiệp định thương mại khu vực không khuyến khích xuất khẩu nông sản của Ai Cập. - Trong nghiên cứu “M h nh Gr vity ho th ơng mại gi Vi t N m v 23 qu gi Ch u Âu (EC23)”, Thai (2006) [161] đã sử dụng mô hình Gravity với bộ số liệu hỗn hợp từ năm 1993 đến năm 2004 đ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại hai chiều giữa Việt Nam với 23 quốc gia châu Âu. Kết quả ước tính đã cho thấy rằng các yếu tố quyết định thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EC23 bao gồm quy mô nền kinh tế, quy mô thị trường và sự biến động tỷ giá hối đoái thực tế.