phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc thành ba chương: Chương một: Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá Chương hai: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 Chương ba: Định hƣớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nƣớc ta 4 z Chương một MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Các lý thuyết thƣơng mại quốc tế Bắt đầu với quan niệm của chủ nghĩa trọng thương thế kỷ 16 (1500 đến 1800) về thương mại quốc tế. Quan niệm này cho rằng nền kinh tế càng xuất khẩu nhiều càng tốt, nhưng nhập khẩu phải bị hạn chế nhiều.
Ý tưởng cơ bản là nhằm tích luỹ càng nhiều vàng bạc hay kim loại quý càng tốt. - Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Vào năm 1776, Tác phẩm "Một tìm hiểu về nguyên nhân và bản chất sự thịnh vượng của các quốc gia" của Adam Smith được xuất bản, trong tác phẩm này Ông đã đưa ra một quan điểm khác về thương mại. Với "sự thịnh vượng của các quốc gia" chúng ta bước vào thời đại kinh tế học cổ điển, tán thành gỡ bỏ toàn bộ các rào cản hạn chế từ thương mại và các khía cạnh khác của nền kinh tế. Ý tưởng của Adam Smith về thương mại và lợi ích của nó đối với xã hội được biết đến như "Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối", ở đó Ông cho rằng "Một đất nước nên sản xuất, chuyên môn hoá sâu và xuất khẩu những hàng hoá mà đất nước đó có một lợi thế tuyệt đối.
- Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo: Vào năm 1817, "Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế chính trị" của David Ricardo đã được xuất bản. Ricardo, một nhà kinh tế cổ điển xuất chúng khác, đã chỉ ra rằng Adam Smith đã không chú ý đến các tình huống mà một quốc gia không có lợi thế chi phí tuyệt đối so với các quốc gia khác. Bằng việc dùng phân tích về chi phí so sánh, Ricardo đã chỉ ra rằng thậm chí khi một quốc gia hoạt động tương đối không hiệu quả trong tất cả các ngành sản xuất thì cũng có thể đạt được có được lợi ích thông qua trao đổi thương mại. 5 z Vì thế, lý thuyết về lợi thế so sánh (Theory of Comparative Advantage) của Ricardo cho thấy mỗi nước nên chuyên môn hoá việc sản xuất các loại hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh.
Các nước nên chuyên môn hoá sản xuất chỉ một loại hàng hoá, đạt được nhờ trao đổi thương mại, và đáp ứng nhu cầu của họ về các loại hàng hoá khác thông qua trao đổi thương mại. - Mô hình Heckscher-Ohlin: Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh của Ricardo. Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn, nó vẫn có sự lý tưởng hoá. Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế.
Mô hình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực. Nó dự đoán rằng, một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm. - Mô hình lực hấp dẫn: So với các mô hình lý thuyết trên, mô hình lực hấp dẫn nghiêng về phân tích định lượng hơn. Ở dạng đơn giản, mô hình lực hấp dẫn dự đoán rằng trao đổi thương mại phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai nước và quy mô của hai nền kinh tế.
Mô hình phỏng theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong đó nói rằng, lực hút của hai vật thể phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng và khối lượng của mỗi vật. Mô hình đã được chứng minh rằng nó có tính định lượng tương đối mạnh thông qua các phân tích kinh tế lượng. Các dạng mở rộng của mô hình này xem xét đến nhiều yếu tố khác như mức thu nhập, quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chính sách thương mại của mỗi nước. Khái niệm thƣơng mại, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu - Khái niệm thương mại: Có nhiều khái niệm khác nhau về thương mại: + Theo từ điển Oxford, thương mại là một nghề, một hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
6 z + Theo từ điển Giải nghĩa kinh doanh, thương mại là việc kinh doanh mua bán để lấy tiền hoặc đổi lấy hàng hoá. Theo các khái niệm này, thương mại chỉ đơn thuần là hoạt động mua bán, đổi chác, không bao gồm các hoạt động đầu tư, sản xuất có liên quan. + Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAIL) đưa ra khái niệm thương mại theo nghĩa rộng bao quát được các vấn đề nổi cộm từ tất cả các mối quan hệ có tính chất thương mại như các giao dịch cung cấp hay trao đổi hàng hoá và dịch vụ, phân phối, đại diện hay đại lý thương mại, cho thuê, tư vấn, vận tải. + Luật Thương mại lại đưa ra khái niệm “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Trong khái niệm này, hàng hoá bao gồm tất các các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. + Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm thương mại được hiểu là tất cả những hoạt động kinh doanh sinh lời, chứ không phải chỉ có hoạt động mua bán hay xuất nhập khẩu thông thường. Khái niệm thương mại ở đây bao hàm cả thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư. Khái niệm hiện đại này tuy là còn mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng khá phổ biến trên thế giới và được hầu hết các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế thừa nhận, điển hình là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
+ Thương mại trong tiếng Việt được hiểu là hành động mua bán của các thể nhân (các cá nhân có tư cách pháp lý) hay pháp nhân (các tổ chức, cơ quan hoạt động kinh doanh có giấy phép hợp pháp) với nhau hoặc sự mua sắm của các tổ chức Nhà nước (chính phủ chẳng hạn), tuỳ theo từng ngữ cảnh. 7 z Như vậy, theo ngôn ngữ luật thì khái niệm “Thương mại” không chỉ bao gồm hoạt động kinh doanh, trao đổi mà bao trùm toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hoá và thậm chí cả việc cung cấp dịch vụ kèm theo. - Khái niệm xuất khẩu Trên thực tế, cho đến nay mặc dù đã có khá nhiều khái niệm về “xuất khẩu”, mỗi một tác giả đưa ra khái niệm đều dựa trên những góc độ xem xét khác nhau. Vì vậy, vẫn chưa có sự thống nhất chính thức về khái niệm “xuất khẩu”.
Tuy nhiên, xuất khẩu nói một cách đơn giản nhất là việc bán một sản phẩm hay một dịch vụ ra thị trường nước ngoài để thu ngoại tệ, xuất khẩu thuần tuý là một chức năng của hoạt động thương mại. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi kinh tế, ổn định từng bước nâng cao mức sống của dân cư. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước phải tham gia xuất nhập khẩu không dễ dàng khống chế được.
Trong quan hệ ngoại thương của các nước, xuất khẩu được chia làm hai loại: xuất khẩu hữu hình tức xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu vô hình tức xuất khẩu dịch vụ. Ngoài ra, đối với xuất khẩu hàng hoá còn được chia ra xuất khẩu thuần tuý và xuất khẩu chung. Xuất khẩu thuần tuý bao gồm hàng hoá sản xuất ở trong nước và hàng từ nước ngoài nhập vào trong nước được chế biến rồi tái xuất. Xuất khẩu chung bao gồm ngoài hai loại trên, còn những hàng hoá từ nước ngoài nhập vào, không qua chế biến ở trong nước rồi lại được tái xuất và những hàng hoá quá cảnh.
- Cơ cấu xuất khẩu: 8 z Cơ cấu xuất khẩu là tổ hợp các yếu tố cấu thành xuất khẩu, thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, chúng quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động với nhau trong không gian và thời gian, trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, phù hợp với mục tiêu xuất khẩu đã được xác định. Hay cơ cấu xuất khẩu là tổng thể của các ngành hàng, lĩnh vực, bộ phận, thành phần và thị trường với vị trí, tỷ trọng tương ứng với chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Cơ cấu xuất khẩu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ về lượng và mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động xuất khẩu. Cơ cấu xuất khẩu phải được hiểu là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành.
Vì vậy, cơ cấu xuất khẩu phải được đặt trong điều kiện về không gian và thời gian cụ thể, trong điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi nước. Cơ cấu xuất khẩu không bất biến mà nó luôn biến động, chuyển dịch cần thiết để ngày càng hợp lý hơn, tạo ra hiệu quả cho xã hội. Mọi sự duy trì quá lâu hay thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu xuất khẩu, không phù hợp với những biến đổi tự nhiên-kinh tế- xã hội, đều ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, ngăn cản tăng trưởng kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu xuất khẩu không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được hiệu quả của hoạt động xuất khẩu và sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
Cơ cấu xuất khẩu là vấn đề mang tính lịch sử và không ngừng biến đổi.