CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về xuất khau hàng hóa 1. Khái niệm xuất khau hàng hóa Căn cứ theo khoản 1 Điều 28 Luật thuong mại 2019 số 17/VBHN-VPQH ban hành ngày 05/7/2019: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thé Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt năm trên lãnh thé Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Nói một cách dễ hiểu, xuất khẩu hàng hóa là quá trình hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia này và bán cho một quốc gia khác, dựa trên cơ sở lấy tiền tệ làm phương thức thanh toán.
Xuất khẩu là một trong những hình thức chuyền giao kinh tế lâu đời nhất và diễn ra trên quy mô lớn giữa các quốc gia. Thay vì chỉ giới hạn trong biên giới địa lý của đất nước mình, các quốc gia luôn chủ động tìm kiếm các thị trường quốc tế nhằm tăng cường trao đổi thương mại mang lại nguồn thu và cơ hội tăng trưởng kinh tế lớn hơn. Các hình thức xuất khẩu hàng hóa Có thé phân chia xuất khâu hàng hóa theo những hình thức chủ yếu sau: - Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hóa mà bên mua và bên bán trực tiếp trao đôi, thỏa thuận về quyền lợi của mỗi bên phù hợp với pháp luật của các quốc gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng. - Xuất khẩu ủy thác hình thành giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nước muốn xuất khâu hàng hóa của doanh nghiệp mình nhưng không đủ điều kiện nên đã ủy thác cho một doanh nghiệp khác đóng vai trò là bên trung gian giao dịch ngoại thương tiễn hành xuất khâu hang hóa theo yêu cầu của mình.
Bên nhận ủy thác sẽ dam phan với bạn hàng nước ngoài dé làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa theo yêu cầu của bên ủy thác và được nhận một khoản tiền nhất định gọi là phí ủy thác. - Xuất khẩu tại chỗ là hình thức hàng hóa được sản xuất phục vụ xuất khâu cho doanh nghiệp nước ngoài nhưng hàng hóa được giao tại Việt Nam cho đơn vi mà bạn hàng nước ngoài chỉ định giao. Với hình thức này, hàng hóa không cần vận chuyền ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam mà khách hàng vẫn có thé mua và sử dụng hàng hóa của mình. Hon nữa, các doanh nghiệp trong nước không cần phải tiễn hành nhiều thủ tục cũng như có thé tiết kiệm được chi phí và thời gian vận chuyền.
- Tạm nhập tái xuất là hình thức mà các doanh nghiệp trong nước nhập khâu hàng hóa từ nước ngoài sau đó lại tiến hành xuất khẩu hàng hóa đó sang một nước khác. Đây là hình thức nhập khẩu hàng hóa không nhăm mục đích tiêu thụ mà đề xuất sang nước thứ ba nhăm thu lợi nhuận cao hơn. - Gia công quốc té là hình thức mà các doanh nghiệp nước ngoài chuyên tư liệu sản xuất (nguyên vật liệu, trang thiết bị, dây chuyền công nghệ,.) hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất và hoàn thành thành sản phẩm hoàn chỉnh, sau đó xuất khâu trả lại cho bên đặt gia công. Hình thức này giúp bên đặt gia công lợi dụng được nguồn nguyên liệu và nhân công với giá rẻ, giúp nước nhận gia công tạo việc làm cho người lao động trong nước và có cơ hội tiếp cận với dây chuyên công nghệ mới.
- Buôn bán đối lưu là hình thức trao đôi hang hóa mà trong đó thé hiện quan hệ chặt chẽ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua hàng, lượng hàng bán ra có giá trị tương đồng với lượng hàng nhận về. Hình thức xuất khâu này không nhằm mục đích thu ngoại tệ mà thu về một lượng hàng hóa khác có giá tri trong đương. - Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khâu được ký kết giữa hai chính phủ. Trong đó, các doanh nghiệp xuất khẩu phải tuân theo các điều lệ trong văn bản đã được ký kết.
Vai trò của xuất khẩu hàng hóa Bằng việc hàng hóa được xuất khâu sang các quốc gia khác nhau, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội mở rộng thị trường kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần toàn cầu và khẳng định được vị thế của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Ngoài ra, các công ty xuất khâu có thé phân tán rủi ro kinh tế bang cách đa dạng hóa các khoản đầu tư của họ sang nhiều thị trường. Các doanh nghiệp cũng có thé thu được lợi ích từ việc xuất khẩu hàng hóa bằng cách tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn, khám phá các công nghệ mới và hiểu biết sâu sắc các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Từ đó hoạch định các chiến lược kinh doanh giúp phát triển doanh nghiệp một cách toàn diện.
Đối với nền kinh tế quốc dân, hoạt động xuất khâu hàng hóa giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của người dân lao động. Xuất khẩu thúc đây sản xuất trong nước theo hướng tận dụng lợi thế cạnh tranh quốc gia; mở rộng và tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, xuất khâu còn mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, từ đó tạo nguồn vốn nhập khẩu các trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm xuất khâu. Cuối cùng, hoạt động xuất khâu giúp quảng bá những nét đẹp truyền thống đặc sắc của Việt Nam kết tinh trong từng loại hàng hóa tới bạn bè quốc tế.
Tóm lại, xuất khẩu hàng hóa là hoạt động không thể thiếu và giữ vai trò to lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Mô hình trọng lực Trong nghiên cứu về hoạt động xuất nhập khâu hay mối quan hệ giao thương giữa các quốc gia, có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu khác nhau, trong đó mô hình trọng lực được sử dụng khá rộng rãi và được xem là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích chiêu hướng và khôi lượng thương mại giữa các nước. Mô hình trọng lực hay còn có tên gọi khác là mô hình lực hấp dẫn - Gravity Model là một mô hình kinh tế lượng được sử dụng phô biến với mục đích đo lường dòng chảy thương mại giữa các quốc gia. Mô hình trọng lực ban đầu bắt nguồn từ sự tương đồng và trực quan với Định luật vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton.
Theo định luật này, lực hap dẫn giữa hai vật thé ty lệ thuận với tích hai khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của chúng: M,M, Fị, = Trong đó: F;; là lực hấp dẫn giữa hai vật Mj, M, là khối lượng của hai vật Dj; là khoảng cách giữa hai vật G là hằng số Mô hình trọng lực lần đầu tiên được giới thiệu bởi Tinbergan (1962) và Poyhonen (1963) (trích dan trong Mohamed và các cộng sự, 2014) dé phân tích sự 6 trao đối thương mại quốc tế giữa các nền kinh tế châu Âu. Dạng đơn giản nhất của mô hình trọng lực mô tả mối liên hệ giữa kim ngạch xuất khẩu từ nước ¡ (nước xuất khẩu) sang nước j (nước nhập khẩu) là Xij với các yếu tô ảnh hưởng gồm quy mô nền kinh tế, thường được đo bằng GDP hoặc tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Product - GNP) của các quốc gia đó là Y,, Y¡ và khoảng cách địa lý giữa hai nước là D¡;, được thể hiện như sau: Xj= Boy Py? Di Hij Trong do: Bo là hệ số chan B:. Bo» Bz là hệ số hồi quy riêng của từng nhân tổ có trong mô hình H¿; là sai số của mô hình Đề chuyên đồi thành một công thức tuyến tính sử dụng trong phân tích kinh tế lượng, ta tiến hành logarit cả hai vế của phương trình và thu được phương trình mới có dạng: In(Xij) = Bo + Bi INQ) + Bz In(Yj) + Bs In(Dij) + bị, Theo mô hình này, quy mô của hai nền kinh tế và khoảng cách dia lý là các nhân tố tác động đến trao đổi thương mại của hai quốc gia: quy mô kinh tế của nước xuất khâu xác định số lượng hàng hóa sản xuất ra, quy mô thị trường nước nhập khẩu thể hiện lượng hàng được tiêu thụ; khoảng cách giữa các quốc gia cho thấy tác động tiêu cực bởi khoảng cách càng lớn thì lực cản giao dịch càng lớn. Nghiên cứu của Linnemann.
H (1966) đã bô Sung biến dân số vào mô hình và chỉ ra nó có tác động tiêu cực đến trao đôi thương mại. Sau đó, một số nghiên cứu (Brada và Mendez, 1985) lại cho răng dân số có ảnh hưởng tích cực bởi khi quy mô dân số của nước nhập khẩu tăng lên dẫn đến nhu cầu về sử dụng hàng hóa tăng, thúc đây giao thương giữa các quốc gia. Theo các nghiên cứu thực nghiệm, trị giá xuất khẩu hàng hóa giữa hai nước còn có thể bị tác động bởi một số nhân tô khác như tỷ giá hối đoái (Wahyudi. R, 2015), lịch sử (Krugman và Maurice, 2005), tham gia vào các hiệp định hoặc các tổ chức thương mại trên thế giới (Viorica.
E, 2012), hàng rào thuế quan và phi thuế quan (Kang, 2014), các chính sách hỗ trợ của chính phủ (Harun và cộng sự, 2014), nước xuất khâu và nhập khẩu dùng chung ngôn ngữ (Mohamed và các cộng sự, 2014). Tóm lại, Đào Ngọc Tiến (2010) đã chia các nhân tố tác động đến trao đổi thương mại theo mô hình trọng lực thành ba nhóm chính: - Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khâu (thé hiện khả năng sản xuất): gồm quy mô nền kinh tế (GDP) và quy mô dân số. - Nhóm nhân tô anh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức tiêu thụ hàng hóa): gồm quy mô nền kinh tế (GDP) và quy mô dân sé. - Nhóm nhân tố hấp dẫn/cản trở: gồm chính sách hỗ trợ, điều hành xuất, nhập khâu và khoảng cách giữa hai nước (thường được đo bằng khoảng cách địa lý và khoảng cách kinh tế).
Biên giới Biên giới nước š nước xuất nhập khẩu Đây khẩn i | Hút Nước xuất khâu Nước nhập khẩu Khoảng cách Chính sách khuyé Tiss 5 khuyén ich/quan lý nha xuat - a : khich/quan lý ws giữa hai. nước ich/quan q lý "Nưươnnha xuất khẩu Lg Bi khâu xuất khâu Các nhân tô anh hương Các nhân to hap Các nhân tô ảnh hưởng đến cung dan/can trở đến câu eS— | Các nhân tỗ ảnh hương đến luồng thương mại quốc té | Hình 1.