CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CARBON VÀ CHƯƠNG TRÌNH THƯƠNG MẠI PHÁT THẢI 1.1 Tổng quan về tín dụng carbon 1.1 Một số khái niệm 1.1 Tín dụng carbon (Carbon credit) Tín dụng carbon hay còn được gọi là tín chỉ carbon có rất nhiều cách hiểu. Theo Jennifer Cooper (2017): Tín dụng carbon là một thuật ngữ được sử dụng cho một giấy chứng nhận hoặc giấy phép thể hiện quyền hợp pháp để phát ra một tấn CO2 hoặc khí nhà kính tương đương. Theo Will Kenton (2019): Tín dụng carbon là giấy phép hoặc chứng chỉ cho phép chủ sở hữu, chẳng hạn như công ty, phát thải CO2 hoặc GHGs tương đương. Từ điển tiếng Anh Oxford có 2 định nghĩa về tín dụng carbon: Thứ nhất “Tín dụng carbon là một yếu tố quan trọng trong hệ thống giao dịch carbon quốc gia và quốc tế.
Một quốc gia hoặc tổ chức có quyền sản xuất một lượng carbon dioxide cụ thể và các loại khí khác gây ra sự nóng lên toàn cầu, được thể hiện dưới dạng tín dụng carbon, có thể được giao dịch giữa các quốc gia hoặc tổ chức.” Thứ hai “Tín dụng carbon một phần bù carbon, mà một người hoặc công ty có thể chọn mua như một cách để giảm mức độ carbon dioxide mà họ chịu trách nhiệm.” Theo điển tiếng Anh Collins: Tín dụng carbon là một khoản trợ cấp mà một số công ty nhất định có, cho phép họ đốt một lượng nhiên liệu hóa thạch nhất định. Cơ quan bảo vệ môi trường Victoria (2008) định nghĩa: Tín dụng carbon là một thuật ngữ chung để gán giá trị cho việc giảm hoặc bù lượng khí thải nhà kính. Tín dụng carbon thường tương đương với một tấn carbon dioxide tương đương (CO2-e). Tín dụng carbon có thể được sử dụng bởi một doanh nghiệp hoặc cá nhân để giảm lượng khí thải carbon của họ bằng cách đầu tư vào một hoạt động đã giảm hoặc cô lập khí nhà kính tại một địa điểm khác.
n 8 Như vậy, Tín dụng carbon đại diện cho quyền phát thải hợp pháp một tấn khí CO2 hoặc một tấn khí nhà kính (GHG) tương đương khác (tCO2e) của chủ sở hữu. Tín dụng carbon là một đơn vị tài chính về đo lường. Có 3 loại tín dụng carbon được mô tả như hình dưới đây: Tín dụng carbon Giấy phép phát thải = Trợ cấp phát thải Chứng nhận giảm thải = Chứng chỉ giảm thải Bù đắp carbon = Tín dụng bù đắp = Tín dụng bù đắp carbon Hình 1.1: Phân loại tín dụng carbon Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.2 Giấy phép phát thải (hay Trợ cấp phát thải) Giấy phép phát thải (Emission permit) và Trợ cấp phát thải (Emission allowance) đều có cùng nghĩa: là một loại tín dụng carbon được phát hành theo chu kỳ bởi chính phủ, quốc gia, hoặc tổ chức dành cho các thành viên tham gia vào chương trình thương mại phát thải mà chính phủ, quốc gia, hoặc tổ chức đó làm chủ. Giấy phép phát thải/Trợ cấp phát thải là công cụ để thành viên tham gia thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo chương trình thương mại phát thải.
Đặc điểm của Trợ cấp khí thải: Thông thường, đại diện cho một tấn carbon dioxide (tCO2) hoặc tấn carbon dioxide tương đương (tCO2e); Được phát hành ra thị trường theo 2 cách: miễn phí và tính phí; Được giao dịch giữa các thành viên; Có giá trị sử dụng 1 lần; Có thể dùng trong thị trường carbon khác nhau theo quy định; n 9 1.3 Chứng nhận giảm thải (hay Chứng chỉ giảm thải) Chứng nhận giảm thải (hay còn gọi là chứng chỉ giảm thải) là một loại tín dụng carbon, được chứng nhận bởi Liên Hợp Quốc (trên thị trường bắt buộc) hoặc chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế từ các tổ chức có quyền hạn (trên thị trường tự nguyện). Trong Nghị định Kyoto có 2 loại chứng nhận giảm thải: Chứng nhận giảm thải CER từ Cơ chế phát triển sạch (CDM) Đơn vị giảm thải ERU từ Cơ chế đồng thực hiện (JI) 1.4 Tín dụng bù đắp carbon (hay bù đắp carbon/tín dụng bù đắp) Các cụm từ Tín dụng bù đắp carbon (carbon offset credit), Bù đắp carbon (carbon offset), Tín dụng bù đắp (Offset credit), và Bù đắp (Offset) đều có cùng nghĩa: là một loại tín dụng carbon được tạo ra từ các dự án tự nguyện được thiết kế với mục đích giảm GHG. Cơ quan bảo vệ môi trường Victoria (2008) định nghĩa: Bù đắp carbon là một khoản đầu tư tiền tệ vào một dự án hoặc hoạt động ở nơi khác làm giảm lượng khí thải nhà kính hoặc cô lập carbon từ khí quyển được sử dụng để bù đắp lượng phát thải khí nhà kính. Các khoản bù đắp có thể được mua bởi một doanh nghiệp hoặc cá nhân trong thị trường tự nguyện (hoặc trong một chương trình giao dịch), phần bù carbon thường đại diện cho 1 tCO2e.
Bù đắp carbon được công nhận có giá trị khi dự án chủ được kiểm tra, xác minh và xác nhận một cách nghiêm ngặt. Bù đắp carbon bổ sung cho bất kỳ sự giảm phát thải nào có thể đạt được trong việc tuân thủ quy định hoặc tham gia vào chương trình bắt buộc. Do đó, bù đắp carbon được phép giao dịch ở bất cứ đâu trên thế giới. Các dự án bù đắp carbon có thể đạt được nhiều lợi ích hơn là chỉ cắt giảm khí nhà kính.
Chúng hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và cơ hội giáo dục, và mang lại lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường cho các cộng đồng trên toàn thế giới. Các dự án bù đắp carbon điển hình bao gồm xây dựng tua-bin gió, trang trại năng lượng mặt trời, hỗ trợ các dự án giảm khí mê tan, trồng cây hoặc bảo tồn rừng.5 Giá carbon Cơ quan bảo vệ môi trường Victoria (2008) định nghĩa: Giá carbon là một giá trị kinh tế được đặt vào việc phát thải GHG từ hoạt động của con người. Giá carbon thường ở dạng thuế carbon hoặc chi phí giấy phép trong Chương trình thương mại phát thải. Giá carbon được thiết kế để tạo ra động lực để giảm lượng khí thải.
Ngân hàng thế giới (World Bank) định nghĩa: Giá carbon là một công cụ nắm bắt các chi phí bên ngoài của GHG, các chi phí phát thải mà công chúng phải trả, như thiệt hại cho mùa màng, chi phí chăm sóc sức khỏe từ sóng nhiệt và hạn hán và mất tài sản do lũ lụt và mực nước biển dâng cao và liên kết chúng với các nguồn phát thông qua một mức giá, thường ở dạng giá trên CO2 phát ra. Thay vì ra lệnh ai nên giảm khí thải ở đâu và như thế nào, giá carbon cung cấp tín hiệu kinh tế cho người phát và cho phép họ quyết định chuyển đổi hoạt động và giảm lượng khí thải, hoặc tiếp tục phát ra và trả tiền cho khí thải. Theo cách này, mục tiêu môi trường tổng thể đạt được theo cách linh hoạt nhất và chi phí thấp nhất cho xã hội. Đối với các chính phủ, giá carbon là một trong những công cụ của chính sách khí hậu cần thiết để giảm lượng khí thải.
Trong hầu hết các trường hợp, nó cũng là một nguồn thu, đặc biệt quan trọng trong môi trường kinh tế của những hạn chế về ngân sách. Các doanh nghiệp sử dụng giá carbon nội bộ để đánh giá tác động của giá carbon bắt buộc đối với hoạt động của họ và như một công cụ để xác định các rủi ro khí hậu và cơ hội doanh thu tiềm năng. Cuối cùng, các nhà đầu tư dài hạn sử dụng giá carbon để phân tích tác động tiềm tàng của các chính sách biến đổi khí hậu đối với danh mục đầu tư của họ, cho phép họ đánh giá lại các chiến lược đầu tư và phân bổ vốn cho các hoạt động có khả năng chống chịu khí hậu hoặc carbon thấp. Có hai loại định giá carbon chính: Chương trình thương mại phát thải (ETS) và thuế carbon.
Theo William Nordhaus (2008), Giáo sư kinh tế của Đại học Yale, cho rằng giá carbon cần phải đủ cao để thúc đẩy những thay đổi trong hành vi và thay đổi hệ thống sản xuất kinh tế cần thiết để hạn chế hiệu quả phát thải khí nhà kính. Tăng giá carbon sẽ đạt được bốn mục tiêu. Đầu tiên, nó cung cấp tín hiệu cho người tiêu dùng về n 11 những hàng hóa và dịch vụ nào là carbon cao và do đó nên được sử dụng một cách tiết kiệm hơn. Thứ hai, nó cung cấp tín hiệu cho các nhà sản xuất về việc đầu vào nào sử dụng nhiều carbon hơn (như than và dầu) và sử dụng ít hơn hoặc không sử dụng (như khí đốt tự nhiên hoặc năng lượng hạt nhân), từ đó tạo ra các công ty thay thế đầu vào carbon thấp.
Thứ ba, nó sẽ khuyến khích thị trường cho các nhà phát minh phát triển và giới thiệu các sản phẩm cũng như quy trình carbon thấp có thể thay thế thế hệ công nghệ hiện tại. Thứ tư, và quan trọng nhất, giá carbon cao sẽ sử dụng hiệu quả nhất thông tin cần thiết để thực hiện cả ba nhiệm vụ này.6 Rò rỉ carbon Rò rỉ carbon là rủi ro làm tăng chi phí do các chính sách khí hậu trong một khu vực tài phán, chẳng hạn như EU, có thể khiến các công ty chuyển sản xuất sang các nước khác có tiêu chuẩn lỏng lẻo hoặc có các biện pháp để cắt giảm GHG. Điều này có thể dẫn đến sự gia tăng phát thải GHG toàn cầu. Chi phí liên quan đến ô nhiễm theo chính sách khí hậu đầy tham vọng hơn có thể khiến các doanh nghiệp ở EU gặp bất lợi cạnh tranh so với các đối thủ không phải đối mặt với chi phí tương tự.
Các doanh nghiệp này, nói chung là các ngành sử dụng nhiều năng lượng, có thể quyết định di dời sản xuất hoặc đầu tư mới bên ngoài EU. Do đó, rò rỉ carbon có thể làm suy yếu tính toàn vẹn môi trường và lợi ích của hành động để giảm lượng khí thải.7 Thị trường carbon – Thương mại phát thải Thị trường carbon là nơi diễn ra các giao dịch, trao đổi, mua bán tín dụng carbon theo cơ chế cung cầu. Thương mại phát thải là hoạt động giao dịch, trao đổi, mua bán tín dụng carbon giữa các những người tham gia nhằm mục đích giảm phát thải GHG theo một cơ chế cụ thể nhất định tùy theo khu vực, quốc gia, hay liên minh thực hiện quy định. Đây là một thiết bị chính sách môi trường đặt chi phí kinh tế cho lượng khí thải carbon.
Các công cụ dựa trên thị trường đã được đưa ra trong các tài liệu chính thức vào đầu những năm 1990, trong đó đưa ra việc xem xét nghiêm túc thương mại phát thải như là một phần của chính sách khí hậu ở châu Âu.