CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH MUA BÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 1. Tổng quan về giao dịch thương mại quốc tế 1. Lược sử về phát triển của các giao dịch thương mại quốc tế Thương mại quốc tế dựa trên trao đổi hàng hóa tự do bắt đầu sớm nhất vào năm 2500 trước Công nguyên. Các khám phá khảo cổ học chỉ ra rằng người Sumer ở miền Nam Lưỡng Hà đã có được sự thịnh vượng dựa trên việc buôn bán hàng dệt và kim loại bằng đường biển.
Người Hy Lạp thu lợi từ việc trao đổi dầu ô liu và rượu vang lấy ngũ cốc. Với sự suy tàn của Hy Lạp, La Mã trở nên hùng mạnh và bắt đầu mở rộng sang phương Đông. Vào thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, người La Mã giao thương với người Trung Quốc dọc theo Con đường Tơ lụa và phát triển nhiều tuyến đường thương mại và các hình thức buôn bán phức tạp bằng đường biển. Tuy nhiên, chiến tranh thế giới khiến việc đi lại không an toàn và không khuyến khích việc luân chuyển hàng hóa, dẫn đến việc kinh doanh của các nước với thị trường nước ngoài bị gián đoạn (Daniels và Radebaugh, 2004).
Theo Seyoum (2013), vào thời điểm Đế chế La Mã tan rã vào thế kỷ V, chế độ giáo hoàng đã nổi lên như một thể chế mạnh mẽ trong một thế giới mới và không ổn định. Sự hỗ trợ của nhà thờ vào thế kỷ XI đã làm hồi sinh thương mại quốc tế ở phương Tây thông qua việc phát hiện và giới thiệu những ý tưởng, phong tục và sản phẩm mới từ phương Đông. Các sản phẩm mới như thảm, đồ nội thất, đường và gia vị được mang đến từ Ai Cập, Syria, Ấn Độ và Trung Quốc đã kích thích thị trường và đời sống thương mại ngày càng tăng của phương Tây. Điều này đã giúp các thành phố của Ý như Venice và Genoa phát triển thịnh vượng và thay thế Constantinople trở thành trung tâm thương mại nội địa hàng đầu.
Thư tín dụng, hối phiếu và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đã được sử dụng rộng rãi để đáp ứng nhu cầu tài chính và thương mại ngày càng tăng của các thương gia và khách du lịch. Vào cuối thế kỷ XV, trung tâm thương mại quốc tế đã chuyển từ Địa Trung Hải sang Tây Âu. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và sau đó là Hà Lan trở thành tâm điểm của hoạt động thương mại quốc tế. Tại thời điểm đó, các khu vực phát triển hơn của Châu Âu cũng dần thay đổi từ phương thức tự cung tự cấp sang nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào hàng NK được thanh toán bằng tiền hoặc thư tín dụng.
Với việc phát hiện ra Châu Mỹ vào năm 1492 và các tuyến đường biển đến Ấn Độ vào năm 1498, thương mại quốc tế đã phát triển mạnh mẽ dưới các hình thức thuộc địa. 4 Các động lực chính đằng sau sự mở rộng lãnh thổ bằng việc phát triển thuộc địa hóa trong thế kỷ XV để nâng cao sức mạnh kinh tế quốc gia (chính sách trọng thương) bằng cách khai thác các thuộc địa vì lợi ích riêng của nước mẹ. Các thuộc địa được coi là sẽ giúp nền kinh tế nước nhà giảm bớt sự phụ thuộc thương mại vào các quốc gia đối thủ và tăng cường sự vững chắc của quốc gia thông qua XK sang các nước thuộc địa cũng như khám phá ra kim loại quý ở các nước thuộc địa. Giai đoạn đầu tiên của quá trình thuộc địa này, kéo dài cho đến khi cuộc cải cách Công nghiệp ở Anh ra đời vào năm 1750, được đặc trưng bởi những điểm chung sau đây liên quan đến thương mại: - Tất cả thương mại giữa các thuộc địa và nước mẹ là độc quyền quốc gia, có nghĩa là tất cả hàng hóa XK / NK phải được vận chuyển bằng tàu của nước mẹ và đi qua các cảng quy định.
- Ít khuyến khích các nước mẹ NK từ các nước thuộc địa, chỉ cho phép các nước thuộc địa XK kim loại quý hoặc các mặt hàng khan hiếm sang nước mẹ. Ví dụ, vào năm 1600, kim loại quý chiếm 90% kim ngạch XK của các thuộc địa sang Tây Ban Nha. Vào giữa những năm 1650, NK của Anh từ các thuộc địa của mình chủ yếu tập trung vào ba sản phẩm chính: đường, thuốc lá và lông thú. Để bảo vệ các công ty trong nước, các mặt hàng XK của nước thuộc địa đã bị hạn chế hoặc phải chịu thuế đặc biệt nhằm giảm sức cạnh tranh với nước mẹ.
Các mô hình quan hệ kinh tế được hình thành trên cơ sở không giống nhau, nhằm giảm tính cạnh tranh sản xuất thuộc địa. - Các nước thuộc địa chỉ được XK những mặt hàng được nước chính quốc cho phép và chỉ được XK sang nước chính quốc hoặc một số nước thuộc địa khác nhằm đảm bảo nguồn cung thực phẩm cho nước chính quốc hoặc một số nước thuộc địa được chỉ định. Giai đoạn lịch sử thứ hai của quá trình mở rộng ra nước ngoài (1765-1900) được đề cập nhiều hơn bởi những cân nhắc về lợi ích thương mại hơn là chỉ vì lợi ích lãnh thổ. Nước Anh nổi lên như một cường quốc thuộc địa thống trị, và đến năm 1815, nước Anh đã biến đế chế của mình thành mô hình kinh doanh điển hình trên toàn thế giới.
Vào những năm 1860, cuộc Cách mạng Công nghiệp đã làm thay đổi cấu trúc xã hội và kinh tế của nước Anh, và sản xuất hàng loạt dẫn đến việc mở rộng thị trường hàng hóa trên quy mô quốc tế. Nền kinh tế chính trị của chủ nghĩa trọng thương đã phát triển mạnh trong thế kỷ trước dần được thay thế bằng nền kinh tế tự do thương mại. Đến năm 1860, Anh đã cho phép tàu nước ngoài được phép mang hàng hóa thuộc địa đến bất cứ đâu và xóa các độc quyền thương mại, cho phép một số doanh nghiệp cụ thể được kinh doanh XNK. Các thuế 5 quan đối với hàng hóa của đế chế Anh dần dần bị bãi bỏ.
Về thương mại, cũng như trong chính sách đối ngoại, Anh dẫn đầu tư tưởng thương mại tự do dựa trên quan điểm không phân biệt đối xử. Vào thời điểm đó, nước Anh cũng đã được hưởng lợi từ thương mại tự do vì nước này dẫn đầu về công nghiệp và thương mại so với các quốc gia khác. Đặc điểm chính của các mối quan hệ kinh tế từ năm 1900 cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ là sự phát triển mạnh mẽ của thương mại và sự xuất hiện của nền kinh tế thế giới. Đây cũng là kết quả của sự di cư quốc tế và vốn từ châu Âu, đặc biệt là Anh, kể từ những năm 1850, đến các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Úc, Argentina, Brazil và Canada.
Mô hình kinh tế thế giới này đã cung cấp cho các nền kinh tế công nghiệp các nguồn thực phẩm và nguyên liệu mới và các thị trường mới để XK hàng chế tạo. Ví dụ, vào năm 1913, Brazil là nguồn cung cấp 2/3 lượng cà phê NK của Đức, trong khi Bắc Phi cung cấp hơn một nửa lượng rượu vang NK của Pháp. Tuy nhiên, phần lớn thương mại NK ở châu Âu phải chịu các hạn chế thương mại, chẳng hạn như thuế quan, để đảm bảo thị trường nội địa cho các nhà sản xuất địa phương. Ngay cả bên trong nước Anh cũng có những áp lực gia tăng đối với việc áp dụng thương mại tự do.
Quá trình phục hồi sau Thế chiến thứ nhất tiếp tục bị trì hoãn do sự gián đoạn của các liên kết thương mại, khi các quốc gia mới được tạo ra và biên giới được vẽ lại. Sự can thiệp của nhà nước và các chính sách kinh tế hạn chế đã được củng cố ở châu Âu và các nước khác vào cuối chiến tranh. Chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành Biểu thuế Fordney- McCumber vào năm 1922, áp đặt mức thuế cao đối với hàng NK nông sản và sau đó là Biểu thuế Smoot-Hawley vào năm 1930, gây ra sự trả đũa trên diện rộng. Anh áp đặt thuế cao đối với các sản phẩm công nghiệp khác nhau, chẳng hạn như dụng cụ chính xác và hóa chất hữu cơ tổng hợp, để khuyến khích sản xuất trong nước theo Đạo luật Bảo vệ Công nghiệp, năm 1921.
Khối lượng thương mại thế giới trong lĩnh vực sản xuất giảm 35% từ năm 1929 đến năm 1932, và giá cả cũng giảm một mức tương tự. Khối lượng giao dịch các sản phẩm sơ cấp giảm 15%, nhưng giá giảm khoảng 50%. Để giảm bớt những tác động tồi tệ nhất của cuộc Suy thoái, các quốc gia đã sử dụng đến chủ nghĩa bảo hộ nhiều hơn. Làn sóng chủ nghĩa bảo hộ này đã tạo ra một sự thu hẹp đáng kể của thương mại quốc tế và càng làm trầm trọng thêm tình hình suy thoái.
Nhiều rào cản được đặt ra đối với thương mại bao gồm thuế quan và hạn ngạch, một loạt các chương trình duy trì giá cả, cũng như thao túng tiền tệ tùy tiện và kiểm soát ngoại hối. 6 Để tránh lặp lại tình hình kinh tế của hai cuộc chiến trước, các nước đồng minh đã gặp nhau ngay cả trước chiến tranh để thảo luận về các thỏa thuận tài chính quốc tế sẽ chi phối hoạt động thương mại và dịch chuyển vốn trong thế giới sau chiến tranh. Năm 1944, họ thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD). IMF quan tâm đến việc tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng thương mại toàn cầu thông qua hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, trong khi IBRD được thành lập để thúc đẩy đầu tư dài hạn.
Tiếp theo là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, hay còn gọi là GATT vào năm 1948, cho phép lưu chuyển hàng hóa tự do giữa các quốc gia. Vai trò của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ qua các biên giới quốc gia. Đây là hình thức kinh doanh quốc tế truyền thống nhất và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình lịch sử thế giới. Đây cũng là loại hình hoạt động kinh doanh nước ngoài đầu tiên được thực hiện bởi hầu hết các công ty bởi vì hoạt động NK hoặc XK đòi hỏi ít cam kết và rủi ro nhất đối với các nguồn lực của công ty.
Ví dụ, một công ty có thể sản xuất để XK bằng cách sử dụng năng lực sản xuất dư thừa của mình. Đây là một cách không tốn kém để kiểm tra mức độ chấp nhận của sản phẩm trên thị trường trước khi đầu tư vào các cơ sở sản xuất địa phương.