CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC 1. Giới thiệu về thị trường gạo Trung Quốc 1. Nhu cầu về gạo của Trung Quốc từ năm 2009 Lúa gạo là một nguồn lương thực quan trọng khó có thể thay thế trong nhu cầu hàng ngày của người dân Trung Quốc. Với dân số đông nhất thế giới (1,3 tỷ người vào năm 2016) (theo World Bank, 2016), nhu cầu lương thực nói chung và nhu cầu về gạo nói riêng của Trung Quốc là rất lớn.
Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ khoảng 1/3 sản lượng gạo của thế giới, tức là khoảng 200 triệu tấn/năm (Wei Xiong, Viện Môi trường & Phát triển bền vững Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, 2016). Tuy nhiên, do đặc điểm của cây lúa là phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, không phải vùng nào cũng có thể trồng lúa để đáp ứng nhu cầu lương thực của người dân trong nước, trong khi Trung Quốc chỉ sở hữu 9% diện tích có thể canh tác nông nghiệp của thế giới (Anh Minh, 2017). Do vậy, từ lâu Trung Quốc đã tham gia vào thị trường thương mại gạo của thế giới với vai trò như một nhân tố có khả năng gây xáo trộn mạnh thị trường gạo thế giới do có thể tăng sản lượng xuất khẩu (khi giảm lượng dự trữ) hoặc tăng khối lượng nhập khẩu (khi mất mùa cần phải bổ sung dự trữ để đảm bảo an ninh lương thực) (Nguyễn Văn Sơn, 2013). Khi cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm 2008 diễn ra, giá lương thực thế giới ở mức cao, sản lượng nhập khẩu gạo của Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2003.
Tuy nhiên, sau đó, khi giá lương thực ổn định trở lại, Trung Quốc tiếp tục nhập khẩu gạo đều đặn và sản lượng liên tục tăng từ năm 2009 đến nay. Biểu đồ dưới đây sẽ thể hiện rõ hơn về sản lượng nhập khẩu gạo của Trung Quốc qua các năm: 6 Biểu đồ 1. Biểu đồ lượng gạo nhập khẩu vào Trung Quốc từ năm 2009 đến năm 2016 Đơn vị: tấn 4,000,000 3,000,000 2,000,000 1,000,000 0 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Sản lượng 337,537 366,171 578,383 2,344,622 2,244,317 2,556,549 3,349,984 3,533,938 Nguồn: tác giả tổng hợp từ “List of importers for rice” của ITC, 2017 Từ năm 2009, sản lượng gạo nhập khẩu vào Trung Quốc tăng lên nhanh chóng và tăng đột biến kể từ năm 2012, từ 578.383 tấn vào năm 2011 đến hơn 2 triệu tấn vào năm 2012. Đến cuối năm 2016, lượng gạo nhập vào Trung Quốc đã tăng lên 3,5 triệu tấn, chiếm 9,48% tổng khối lượng mua bán gạo của toàn thế giới.
Điều này cho thấy nhu cầu về gạo của thị trường Trung Quốc là rất lớn và có khả năng chi phối thị trường gạo thế giới. Tổng quan về các nước xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc Dựa vào số liệu được thống kê trong “List of importers for rice” của ITC, 2017, có thể thấy rằng các nước xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc chủ yếu là Thái Lan, Việt Nam và Pakistan. Biểu đồ thị phần các nước nhập khẩu gạo vào Trung Quốc Đơn vị: % 100% 80% 60% 40% 20% 0% 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Việt Nam 0.02 Nguồn: tác giả tổng hợp từ “List of importers for rice” của ITC, 2017 7 Trong những năm 2009 – 2010, Thái Lan là nguồn nhập khẩu chủ yếu của thị trường Trung Quốc với tỷ lệ lần lượt là 93,88% và 81,68%. Tuy nhiên từ năm 2011, Việt Nam lại trở thành nguồn nhập khẩu gạo chủ yếu của Trung Quốc với thị phần chiếm xấp xỉ 50%, thậm chí năm 2013 chiếm đến 65,99%.
Nguyên nhân của sự thay đổi này xuất phát từ sự cạnh tranh về giá gạo xuất khẩu của các nước. Từ trước đến nay gạo Thái Lan luôn được biết đến với chất lượng tốt, ổn định đi kèm với những thương hiệu lâu đời nên mức giá xuất khẩu thường cao hơn những nước khác. Trong khi đó thị trường Trung Quốc lại là một thị trường khá dễ tính về chất lượng và rất nhạy cảm về giá, nên khi Việt Nam xuất khẩu những loại gạo với chất lượng tương đương Thái Lan mà mức giá lại rẻ hơn rất nhiều thì Trung Quốc lại chuyển hướng nhập gạo của Việt Nam. Trường hợp này cũng tương tự đối với Pakistan khi từ năm 2012 đến 2016, thị phần của gạo Pakistan nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc ở mức tương đối ổn định sau khi đạt đỉnh 24,72% vào năm 2012.2 Giới thiệu về mặt hàng gạo xuất khẩu và tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam 1.
Tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam 1. Điều kiện tự nhiên Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương. Trên bản đồ, dải đất liền của Việt Nam kéo dài từ vĩ độ 23023’ Bắc đến 8027’ Bắc. Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm có nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, mưa nhiều.
Do đó, nước ta có khí hậu rất thuận lợi để sản xuất lúa gạo, trồng được nhiều vụ mùa trong năm. Ở miền Bắc một năm có hai vụ lúa chính là vụ chiêm và vụ mùa. Ở miền Nam, nông dân trồng ba vụ một năm: vụ đông xuân (có sản lượng cao nhất và cũng đạt chất lượng tốt nhất cho xuất khẩu), vụ hè thu và vụ thu đông. Tuy nhiên, nước ta cũng thường xuyên gặp thiên tai như bão, lũ lụt, rét đậm, sương muối,… gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng cũng như chất lượng của lúa gạo.
Ngoài điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng lúa, Việt Nam còn có hệ thống sông ngòi dày đặc với 2.360 con sông, tạo nên hệ thống cung cấp nước dồi dào cho ngành nông nghiệp. Dọc bờ biển, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 8 112 cửa sông ra biển. Các sông lớn ở Việt Nam thường bắt nguồn từ bên ngoài, phần trung du và hạ du chảy trên đất Việt Nam. Hầu hết các sông ở Việt Nam chảy theo hướng tây bắc – đông nam và đổ ra biển Đông.
Hai con sông lớn nhất là sông Hồng và sông Cửu Long tạo nên hai đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mỡ là hai vựa lúa chính của cả nước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Bên cạnh đó, tài nguyên đất của Việt Nam cũng rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nói chung và ngành lúa gạo nói riêng. Tổng diện tích cả nước là khoảng 33,1 triệu ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là khoảng hơn 7 triệu ha, chiếm hơn 21% diện tích cả nước và có xu hướng ngày càng tăng. Đất trồng lúa nước ta không chỉ có độ phì nhiêu cao mà còn rất phù hợp với khả năng phát triển của cây lúa.
Đây là một lợi thế quan trọng cho việc thâm canh và quảng canh nhằm tăng sản lượng cây lúa.1: Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2016 Đơn vị: nghìn ha, nghìn tấn, tạ/ha Năm Diện tích lúa (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Năng suất (tạ/ha) 2009 7.212,0 57,1 Nguồn: tác giả tổng hợp từ số liệu thống kê về sản lượng, diện tích và năng suất của một số cây trồng của Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2017 Bảng số liệu trên cho thấy sự tăng trưởng của ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam, về cả diện tích, sản lượng và năng suất. Tuy vậy, tốc độ gia tăng của năng suất (trung bình trong giai đoạn trên là 1,25%) còn thấp so với tốc độ tăng của sản lượng (trung bình trong giai đoạn trên là 2,17%). Mặt khác, vào năm 2016, khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chủ động giảm 100.000 ha gieo trồng lúa để chuyển sang trồng ngô và cây thức ăn chăn nuôi thì sản lượng gạo của Việt Nam 9 có sự suy giảm nhẹ, chứng tỏ rằng năng suất lúa còn phụ thuộc nhiều vào diện tích trồng lúa. Điều này đặt ra một thách thức cho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam khi phải tăng về cả năng suất và sản lượng trong khi diện tích trồng lúa có hạn.
Nguồn lao động cho nông nghiệp Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng trên dưới 50% lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Với lợi thế lực lượng lao động dồi dào, được đánh giá là cần cù, thông minh, chịu khó và có khả năng tiếp thu công nghệ, Việt Nam từ lâu đã phát triển ngành sản xuất lúa gạo như một ngành sản xuất truyền thống gắn liền với nền văn minh lúa nước của dân tộc. Hơn nữa, giá nhân công của nước ta ở mức thấp so với các đối thủ cạnh tranh khác như Thái Lan, Pakistan, nên đã tạo ra lợi thế về chi phí sản xuất lúa gạo cho Việt Nam.3: Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2009 – 2016 Đơn vị: nghìn người TỔNG SỐ Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 60,000 50,000 40,000 30,000 20,000 10,000 0 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Nguồn: Thống kê Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 01/07 hàng năm phân theo ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2017 Tuy lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm trên dưới 50% dân số trong độ tuổi lao động nhưng số lượng này đang có xu hướng giảm dần cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Cụ thể vào năm 2009, số lượng lao động trong lĩnh vực này chiếm 51,54%, sau đó giảm dần và đến năm 2016, con số này chỉ còn 41,9%.
Điều này chứng tỏ rằng lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hiện nay không thu 10 hút được lực lượng lao động mới, mà họ đang chuyển sang các ngành công nghiệp hoặc dịch vụ có sức hút hơn. Mặt khác, tuy lực lượng lao động dồi dào như vậy nhưng trình độ chuyên môn của lao động nông thôn chưa cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, hiện tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực này đã qua đào tạo chỉ chiếm 4,2% vào năm 2015. So với những năm trước thì tỷ lệ này có tăng nhưng không đáng kể.