Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu trái cây. Chương 3: Phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu trái cây Việt Nam sang Hoa Kỳ.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU TRÁI CÂY 2. TỔNG QUAN VỀ MẶT HÀNG TRÁI CÂY 2. Khái niệm và đặc điểm mặt hàng trái cây Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), trái cây được định nghĩa là các loại quả, hạt, hoặc một phần của cây ăn được, thường có hương vị ngọt và thường không cần chế biến. Một số đặc điểm của mặt hàng trái cây như sau: Phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên: Đặc điểm về khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước… tác động rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Điều kiện tự nhiên phù hợp sẽ giúp nâng cao sản lượng cũng như chất lượng của trái cây. Ngược lại, điều kiện tự nhiên không phù hợp sẽ làm giảm cả năng suất và chất lượng trái cây. Từ đó ảnh hưởng đến giá cả và và khả năng cung ứng nguồn hàng. Tính đa dạng: Trái cây đa dạng về chủng loại và chất lượng.
Vì mỗi vùng có điều kiện tự nhiên khác nhau nên trái cây cũng phát triển với những đặc điểm khác nhau hay từng vùng lại có điều kiện phù hợp để phát triển một loại trái cây riêng. Tính mùa vụ: Bởi cây trồng sinh trưởng và phát triển theo một quy luật nhất định nên quá trình gieo trồng, sản xuất, thu hoạch của các loại trái cây mang tính mùa vụ. Chất lượng trái cây chịu sự biến động nhất định theo mùa. Vào chính vụ thì sản lượng lớn, hàm lượng dinh dưỡng cao, chất lượng tương đối đồng đều và giá thành rẻ.
Ngược lại, nếu trái vụ thì sản lượng ít, chất lượng không đều và giá thành cao hơn. Giàu dinh dưỡng: Trái cây là một nguồn dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể con người. Chúng chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất cần thiết, đồng thời cung cấp chất xơ và chất chống oxy hóa, giúp tăng cường sức khỏe và ngăn ngừa nhiều bệnh tật. Bổ sung trái cây vào chế độ ăn hàng ngày là cách đơn giản và hiệu quả để duy trì và cải thiện sức khỏe toàn diện cho con người.
Phân loại trái cây Theo Hệ thống phân loại hàng hóa do Tổ chức Hải quan thế giới phát hành - Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS Code), trái cây được phân vào Chương 8. Phân loại trái cây theo mã HS Chương 08: Quả và quả hạch ăn được; vỏ quả thuộc họ cam quýt và các loại dưa 0801 Dừa, quả hạch Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ. 0802 Quả hạch khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ 10 0803 Chuối, kể cả chuối lá, tươi hoặc khô. 0804 Quả chà là, sung, và, dứa, bơ, ổi, xoài và măng cụt, tươi hoặc khô 0805 Quả thuộc họ cam quýt, tươi hoặc khô 0806 Quả nho, tươi hoặc khô 0807 Các loại dưa (kể cả dưa hấu) và đu đủ, tươi.
0808 Quả táo, lê và quả mộc qua, tươi. 0809 Quả mơ, anh đào, đào (kể cả xuân đào), mận và mận gai, tươi 0810 Quả khác, tươi. 0811 Quả và quả hạch, đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đông lạnh, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất làm ngọt khác. 0812 Quả và quả hạch, được bảo quản tạm thời (ví dụ, bằng khí sunphuro, ngâm nước muối, nước lưu huỳnh hoặc dung dịch bảo quản khác), nhưng không ăn ngay được.
0813 Quả, khô, trừ các loại quả thuộc nhóm 08.06; hỗn hợp các loại quả hạch hoặc quả khô thuộc Chương này. 0814 Vô các loại quả thuộc họ cam quýt, hoặc các loại dưa (kể cả dưa hấu), tươi, đông lạnh, khô hoặc bảo quản tạm thời trong nước muối, nước lưu huỳnh hoặc trong các dung dịch bảo quản khác. Nguồn: UN Comtrade, 2023 (HS 08) 2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 2.
Khái niệm hoạt động xuất khẩu Theo khoản 1, điều 28, Luật Thương mại (2005) quy định: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu là một khái niệm xuất phát từ lĩnh vực trao đổi thương mại hàng hóa xuyên quốc gia. Theo Belay Seyoum (2009), “xuất khẩu” có thể hiểu là việc “trao đổi hàng hóa với quốc gia khác có nhu cầu sử dụng nhằm mục đích kinh doanh sinh lời”. Theo WTO (2011), “xuất khẩu” là hoạt động “bán hàng hóa cho một quốc gia khác”, “hàng xuất khẩu được định giá theo giá trị giao dịch, bao gồm chi phí vận chuyển và bảo hiểm để đưa hàng hóa đến quốc gia khác”.
Nói tóm lại, hoạt động xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa ra nước ngoài, đây không phải hoạt động bán hàng đơn lẻ mà là một hệ thống bán hàng có tổ chức, có sự giám sát, quản lý cấp nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài với mục đích khai thác được 11 lợi thế của các quốc gia, góp phần phân công lao động quốc tế, thu lợi nhuận, tăng thu ngoại tệ, phát triển kinh tế của các quốc gia. Hình thức xuất khẩu 2. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bên mua và bên bán trực tiếp thỏa thuận, trao đổi, thương lượng về quyền lợi của mỗi bên phù hợp với pháp luật của các quốc gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng mà không phải thông qua bên trung gian. Ưu điểm của hình thức này chính là lợi nhuận thường cao hơn các hình thức khác do nhà xuất khẩu không phải chia sẻ lợi nhuận cho bên thứ ba.
Tuy nhiên, để tham gia xuất khẩu theo hình thức này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao. Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu ủy thác) Xuất khẩu gián tiếp là việc các doanh nghiệp trong nước cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường nước ngoài. Tuy nhiên vì một số lý do như không đủ điều kiện tài chính, chuyên môn nghiệp vụ,. nên không thể trực tiếp xuất khẩu mà phải ủy thác cho bên trung gian.
Hai bên cần ký kết hợp đồng ủy thác và bên nhận ủy thác sẽ được hưởng một khoản hoa hồng gọi là phí ủy thác. Trung gian sẽ là người kết nối giữa hai bên xuất - nhập khẩu và là người tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục xuất khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa trao đổi có giá trị tương đương. Mục đích của trao đổi không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác lượng hàng hóa trao đổi của hai bên chênh lệch nhau thậm chí khá lớn. Do đó, số lượng và kim ngạch có tương đương nhau không, không phải là điều cốt yếu duy nhất của phương thức này, hàm nghĩa bản chất của nó là: Không phải là mua đơn phương hay bán đơn phương mà là hai bên đều có bán có mua. Xuất khẩu tại chỗ Xuất khẩu tại chỗ là hình thức mà nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập vào thị trường nước ngoài, hàng hóa xuất khẩu không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia, mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu và giao hàng ngay tại lãnh thổ của nước xuất khẩu. Tại Việt Nam, tại Điều 86, khoản 1 trích trong Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ gồm: 12 a) Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công; b) Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan; c) Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam.
Gia công hàng xuất khẩu Gia công xuất khẩu là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công là các doanh nghiệp trong nước sẽ sử dụng các tư liệu sản xuất như: máy móc, thiết bị, một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công là các doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công và hưởng thù lao. Trên thực tế, nghiệp vụ gia công hàng hóa xuất khẩu cũng là một biện pháp tăng thu nhập ngoại tệ nhưng so với buôn bán xuất khẩu thì nó vẫn xếp vào vị trí thứ yếu. Chính vì vậy, hình thức gia công thường được áp dụng tại những quốc gia đang phát triển, chưa mạnh về công nghệ, kỹ thuật nhưng lại có nguồn lao động dồi dào. Tạm nhập, tái xuất Theo Luật Thương mại 2005, tại Điều 29, khoản 1 quy định: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu bỏ ra. Giao dịch này thu hút ba nước (giao dịch tam giác): nước xuất khẩu, nước tái xuất, nước nhập khẩu. Bên tái xuất trả tiền cho bên xuất khẩu và thu tiền của bên nhập khẩu. Chuyển khẩu Theo Luật Thương mại 2005, tại điều 30, khoản 1 quy định: Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và cũng không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.
Hay nói một cách tổng quát, trong nghiệp vụ chuyển khẩu hàng hóa sẽ đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.