MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thƣơng mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói riêng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi nền kinh tế. Việc tăng cƣờng thƣơng mại quốc tế, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp một quốc gia phát huy đƣợc lợi thế so sánh, mở rộng mặt hàng và thị trƣờng để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và định hƣớng sản xuất. Bằng việc gia tăng xuất khẩu, nền kinh tế của một quốc gia sẽ tăng nguồn dự trữ ngoại tệ, đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; đồng thời cũng giúp tạo ra việc làm, thu nhập ổn đỉnh, nâng cao đời sống cho ngƣời dân.
Chính vì vậy, các nƣớc nói chung và Việt Nam nói riêng đều rất coi trọng hoạt động xuất khẩu hàng hóa và thực thi nhiều biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, đóng góp cho tăng trƣởng kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu ảnh hƣởng nặng nề của dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu và xung đột chính trị, thƣơng mại, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam hiện nay mặc dù đạt đƣợc những thành tựu nhất định nhƣng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trƣởng. Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0% so với năm 2019.
Năm 2021, đạt hơn 336,3 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2020. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn chƣa thể hiện đƣợc sự bền vững, thiếu cân đối trong cơ cấu hàng xuất khẩu, chủ thể xuất khẩu và đặc biệt là thị trƣờng xuất khẩu. Hiện nay, các thị trƣờng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ, ASEAN chƣa thể phục hồi ngay do ảnh hƣởng của đại dịch Covid-19 và các biến động của nền kinh tế toàn cầu. Do đó, vấn đề đặt ra để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam là cần phải đa dạng hóa thị trƣờng, hạn chế sự phụ thuộc vào một số thị trƣờng nhất định.
Khu vực Châu Đại Dƣơng với 2 thị trƣờng chính là Úc và Niu Di-lân đƣợc đánh giá là khu vực thị trƣờng tiềm năng, có nhiều điểm phù hợp cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, là đích đến cho hàng hóa của Việt Nam trong hiện tại và tƣơng lai. Úc và Niu Di-lân đƣợc coi là các thị trƣờng phát triển và có độ mở cao, đã tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do với nhiều nƣớc, khu vực trên thế giới. Úc và Niu Di-lân cũng là các quốc gia có nhu cầu nhập khẩu cao (năm 2021, Úc nhập khẩu gần 249 tỷ USD, Niu Di-lân nhập khẩu gần 50 tỷ USD) và phụ thuộc nhiều vào hàng hóa nhập khẩu để phục vụ cho cả sản xuất và tiêu dùng trong nƣớc. luan an 2 Thời gian qua, việc khai thác thị trƣờng Úc và Niu Di-lân vẫn còn nhiều hạn chế, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam với Úc và Việt Nam với Niu Di-lân cũng nhƣ nhu cầu nhập khẩu của Úc và Niu Di-lân.
Nếu Việt Nam có những giải pháp hiệu quả thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, thâm nhập thị trƣờng, đặc biệt là đối với các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam nhƣ nông thủy sản, trái cây tƣơi, dệt may, da giày, hàng hóa của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng mặt hàng và tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trƣờng Úc và Niu Di-lân. Vì vậy, việc thực hiện đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trƣờng Úc và Niu Di-lân” là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tổng quan công trình nghiên cứu có liên quan 2. Công trình nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Daneta Fildza Adany (2017), trong nghiên cứu về chính sách xúc tiến xuất khẩu và tác động đến sự phát triển kinh tế ASEAN đã phân tích để tìm ra các chính sách thƣơng mại quốc tế dẫn đến thúc đẩy xuất khẩu có mang lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế của ASEAN hay không.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 1993-2013 ở 5 quốc gia ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore. Phƣơng pháp 3 giai đoạn hồi quy 3SLS đƣợc sử dụng để ƣớc tính tác động của các chính sách khuyến khích xuất khẩu đối với phát triển kinh tế, đƣợc thể hiện qua: (i) tăng trƣởng của khu vực nông nghiệp, (ii) tăng trƣởng của khu vực công nghiệp, (iii) tăng trƣởng xuất khẩu, và (iv) sự tăng trƣởng của GDP. Kết quả chỉ ra rằng việc cắt giảm thuế nhập khẩu trong chính sách khuyến khích xuất khẩu đã giúp đẩy mạnh công nghiệp hóa đối với các quốc gia dựa vào nông nghiệp thông qua việc khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp chế biến và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Ngoài ra, kết quả ƣớc tính cũng cho thấy mức độ tăng cƣờng thúc đẩy xuất khẩu có thể tác động tiêu cực đến tăng trƣởng kinh tế, nếu công nghiệp hóa có mối liên kết yếu với ngành nông nghiệp.
Bài nghiên cứu định lƣợng của Lee Koung-Rae, Lee Seo Young (2020) đánh giá mức độ mà bảo hiểm xuất khẩu giúp thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc sang các nƣớc ASEAN và Ấn Độ, đƣa ra các tác động của chính sách bảo hiểm xuất khẩu đối với hàng xuất khẩu của Hàn Quốc sang các nƣớc nghiên cứu. Mô hình trọng lực cơ bản đƣợc sử dụng để đƣa ra các kết quả định lƣợng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng luan an 3 bảo hiểm xuất khẩu của Hàn Quốc có ảnh hƣởng tích cực đến việc thúc đẩy xuất khẩu sang các nƣớc ASEAN và Ấn Độ, cụ thể, bảo hiểm xuất khẩu có tác động mở rộng xuất khẩu cho Hàn Quốc tại các nƣớc ASEAN và Ấn Độ theo cấp số nhân từ 4,1 đến 4,7 lần. Nghiên cứu này đã phân tích sâu sắc tác động của bảo hiểm xuất khẩu đối với việc thúc đẩy xuất khẩu vào một khu vực nhất định thông qua chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ.
Mingming Pan, Hien Nguyen (2018), trong bài nghiên cứu về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu sang ASEAN của mình, đã phân tích tác động của xuất khẩu đối với tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc ASEAN, qua đó tìm ra xem quốc gia/khu vực nào sẽ giúp thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế nhiều nhất đối với các nƣớc ASEAN khi các nƣớc ASEAN thúc đẩy xuất khẩu sang quốc gia/khu vực đó. Kết quả cho thấy các nƣớc ASEAN sẽ có lợi nhất khi xuất khẩu sang các nƣớc công nghiệp phƣơng Tây, sau đó là sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc. Xuất khẩu sang các khu vực khác trên thế giới còn chƣa tạo ra nhiều tác động tích cực đáng kể cho tăng trƣởng kinh tế. Do đó, đây là cơ sở để các nƣớc ASEAN cân nhắc và đƣa ra chính sách thƣơng mại phù hợp.
Ludo Cuyvers, Ermie Steenkamp, Wilma Viviers, Riaan Rossouw, Martin Cameron (2017) đã chỉ ra các cơ hội xuất khẩu thực tế của Thái Lan sang các nƣớc ASEAN + 3 (ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) trong nghiên cứu của mình. Bài báo cũng xác định thị phần mà Thái Lan đã có trong các nƣớc ASEAN + 3 và chỉ ra các cơ hội mới cho Thái Lan ở khu vực này, làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lƣợc xúc tiến xuất khẩu phù hợp cho Thái Lan. Mô hình hỗ trợ quyết định (DSM) đƣợc sử dụng với hệ thống lọc dữ liệu mở rộng để sàng lọc và loại bỏ một cách có hệ thống các tổ hợp sản phẩm-quốc gia kém tiềm năng (tức là sản phẩm nào vào quốc gia nào sẽ kém tiềm năng) và chỉ ra các cơ hội xuất khẩu tiềm năng cao cho Thái Lan. Việc chỉ ra sản phẩm nào nên xuất khẩu vào quốc gia nào đƣợc thực hiện trên cơ sở đánh giá các rủi ro của quốc gia đó, hiệu quả kinh tế vĩ mô của quốc gia, các tiềm năng về tăng trƣởng nhập khẩu và quy mô thị trƣờng nhập khẩu, điều kiện tiếp cận thị trƣờng (trong đó bao gồm cả sự tập trung thị trƣờng và sự tồn tại của các rào cản thƣơng mại).
Nghiên cứu cho thấy các nƣớc ASEAN + 3 chiếm khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩu của Thái Lan trên thế giới, trong đó dẫn đầu là Trung Quốc (12,45%), tiếp theo là Nhật Bản (8,56%) và Hàn Quốc (6,23%). Tuy nhiên, Thái Lan vẫn chiếm thị phần tƣơng đối nhỏ đối với hầu hết các sản phẩm mà Thái Lan có cơ hội xuất khẩu tiềm năng này. Điều này cho thấy Thái Lan cần phải có các chiến lƣợc xúc tiến xuất luan an 4 khẩu mang tính đột phá hơn. Nghiên cứu đã đƣa ra bức tranh tổng quát dễ hiểu về các cơ hội xuất khẩu tiềm năng cao của Thái Lan tại khu vực ASEAN + 3.
Bài báo của Jakob Munch, Georg Schaur (2018) đã đánh giá tác động của xúc tiến xuất khẩu đối với hoạt động của các doanh nghiệp. Bài báo này trả lời hai câu hỏi: Xúc tiến xuất khẩu có cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không và có lợi ích nào lớn hơn chi phí không trong bối cảnh hầu hết các nƣớc đều đẩy mạnh xuất khẩu. Bài báo căn cứ vào một loạt đặc điểm của các công ty, phân biệt các công ty tự chọn tham gia vào các dịch vụ xúc tiến xuất khẩu với các công ty mà Hội đồng Thƣơng mại Đan Mạch đã tiếp cận dựa trên thông tin quan sát đƣợc (tức là không thông qua dịch vụ xúc tiến xuất khẩu). Từ đó, bài báo chỉ ra rằng rằng xúc tiến xuất khẩu làm tăng doanh số, giá trị gia tăng, việc làm và giá trị gia tăng trên mỗi lao động.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ, tính toán các khoản chi cho xúc tiến xuất khẩu, trợ cấp và điều chỉnh thuế, khoản giá trị gia tăng thu đƣợc về cao hơn gần ba lần so với chi phí trực tiếp của xúc tiến xuất khẩu. Công trình nghiên cứu liên quan tới các công cụ, biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam Báo cáo của Cục Xúc tiến thƣơng mại (2020) về hiệu quả hoạt động xúc tiến thƣơng mại thời gian qua và kế hoạch, định hƣớng giai đoạn 2020-2025 về xúc tiến thƣơng mại góp phần thúc đẩy xuất khẩu bền vững đã đánh giá thực trạng và hiệu quả các chƣơng trình xúc tiến thƣơng mại định hƣớng xuất khẩu giai đoạn 2015-2019, chỉ ra các tồn tại hạn chế về phát triển thị trƣờng, hình thức thực hiện, nguồn lực tài chính, năng lực của đơn vị chủ trì và tham gia.