Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống MT-TN

Phân tích sâu sắc các yếu tố cốt lõi tác động đến lòng trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống MT-TN. Khám phá bí quyết giữ chân khách hàng.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Kinh doanh thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống Miền Trung Tây Nguyên

Sự trung thành thương hiệu là khái niệm trung tâm trong quản trị thương hiệu hiện đại. Đối với nhóm sản phẩm bánh kẹo truyền thống khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, đây là yếu tố sống còn quyết định sức tồn tại của các làng nghề và cơ sở sản xuất địa phương. Luận án tiến sĩ của Đặng Hồng Vương (Đại học Thương mại, 2021) đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng đứng trước nhiều lựa chọn thay thế từ hàng công nghiệp và sản phẩm nhập khẩu. Bánh kẹo truyền thống mang giá trị văn hóa, lịch sử và hương vị đặc trưng vùng miền. Tuy nhiên, sự gắn kết của người tiêu dùng với các thương hiệu này chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Khoảng trống nghiên cứu này tạo cơ sở cho việc xây dựng mô hình lý thuyết đo lường các nhân tố tác động đến lòng trung thành thương hiệu theo góc tiếp cận người tiêu dùng tại thị trường đặc thù. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược thương hiệu phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.

1.1. Khái niệm và vai trò của trung thành thương hiệu trong ngành bánh kẹo

Trung thành thương hiệu phản ánh cam kết mua lặp lại và giới thiệu sản phẩm của người tiêu dùng đối với một thương hiệu nhất định. Trong ngành bánh kẹo truyền thống, trung thành thương hiệu không chỉ thể hiện qua hành vi mua mà còn qua thái độ tích cực bền vững với sản phẩm. Dick và Basu (2001) phân biệt hai chiều cạnh: trung thành hành vi và trung thành thái độ. Sự kết hợp cả hai chiều này mới tạo ra trung thành thương hiệu thực sự. Đối với bánh kẹo truyền thống, yếu tố văn hóa và cảm xúc có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và duy trì lòng trung thành này.

1.2. Đặc điểm thị trường bánh kẹo truyền thống khu vực Miền Trung Tây Nguyên

Khu vực Miền Trung – Tây Nguyên sở hữu nhiều làng nghề bánh kẹo truyền thống với lịch sử lâu đời. Các sản phẩm đặc trưng như bánh đậu xanh, kẹo gừng, bánh in mang bản sắc vùng miền rõ nét. Thị trường này có tính cạnh tranh cao khi đối mặt với sản phẩm công nghiệp hiện đại. Cơ sở sản xuất chủ yếu là hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năng lực xây dựng thương hiệu còn hạn chế. Người tiêu dùng địa phương có xu hướng gắn bó với sản phẩm quen thuộc, nhưng lớp người tiêu dùng trẻ dễ bị thu hút bởi thương hiệu hiện đại hơn.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành thương hiệu của người tiêu dùng

Nghiên cứu xác định sáu nhóm yếu tố chính tác động đến trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống. Hình ảnh thương hiệu là yếu tố nền tảng. Thương hiệu có hình ảnh hấp dẫn, nhất quán tạo ra nhận thức thuận lợi trong tâm trí người tiêu dùng. Islam và Rahman (2016) khẳng định hình ảnh thương hiệu càng hấp dẫn, người tiêu dùng càng gắn kết chặt chẽ hơn. Tác động thương hiệu đề cập đến phản ứng cảm xúc mà tên gọi, logo hoặc slogan gợi lên trong người tiêu dùng. Matzler và cộng sự (2008) xác định đây là nhân tố then chốt. Chất lượng cảm nhận phản ánh đánh giá chủ quan của người tiêu dùng về sự vượt trội của sản phẩm so với kỳ vọng. Sự hài lòng thương hiệu là trạng thái cảm xúc sau mỗi trải nghiệm tiêu dùng. Niềm tin thương hiệu và sự cam kết thương hiệu hoàn thiện chuỗi nhân tố. Chaudhuri và Holbrook (2001) chứng minh tác động thương hiệu ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ và hành vi trung thành của người tiêu dùng. Mỗi nhân tố vận hành theo cơ chế riêng nhưng có mối tương quan chặt chẽ với nhau.

2.1. Hình ảnh thương hiệu và tác động thương hiệu đối với lòng trung thành

Hình ảnh thương hiệu bao gồm toàn bộ liên tưởng mà người tiêu dùng có về một thương hiệu. Johnson và cộng sự (2001) khẳng định hình ảnh thương hiệu dẫn đến thái độ tích cực và từ đó hình thành lòng trung thành. Với bánh kẹo truyền thống, hình ảnh thương hiệu gắn liền với di sản văn hóa, nguồn gốc xuất xứ và câu chuyện sản phẩm. Tác động thương hiệu là phản ứng tâm lý tức thì khi tiếp xúc với các yếu tố nhận diện thương hiệu. Phản ứng này có thể tích cực hoặc tiêu cực. Các cơ sở sản xuất cần đầu tư xây dựng hình ảnh và tạo tác động cảm xúc nhất quán để củng cố lòng trung thành của người tiêu dùng địa phương.

2.2. Chất lượng cảm nhận sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Chất lượng cảm nhận là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm dựa trên trải nghiệm thực tế và kỳ vọng trước khi mua. Đối với bánh kẹo truyền thống, chất lượng cảm nhận liên quan đến hương vị, nguyên liệu tự nhiên và quy trình sản xuất thủ công. Sự hài lòng tích lũy qua nhiều lần mua tạo nền tảng cho niềm tin thương hiệu. Niềm tin thương hiệu là kỳ vọng chắc chắn rằng thương hiệu sẽ thực hiện đúng cam kết. Khi niềm tin được thiết lập vững chắc, người tiêu dùng ít bị tác động bởi các lựa chọn thay thế và mức độ trung thành thương hiệu tăng cao đáng kể.

III. Phương pháp nghiên cứu và mô hình đo lường sự trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Giai đoạn định tính sử dụng phỏng vấn sâu chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung để xây dựng thang đo phù hợp với bối cảnh văn hóa địa phương. Giai đoạn định lượng thu thập dữ liệu từ người tiêu dùng tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên thông qua bảng hỏi có cấu trúc. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA) kiểm tra độ tin cậy và giá trị của thang đo. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa các biến. Mô hình nghiên cứu đề xuất sáu yếu tố độc lập: hình ảnh thương hiệu, tác động thương hiệu, chất lượng cảm nhận, sự hài lòng, niềm tin và cam kết thương hiệu. Biến phụ thuộc là mức độ trung thành thương hiệu của người tiêu dùng. Nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh thành có ngành bánh kẹo truyền thống phát triển như Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Đắk Lắk.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và xây dựng thang đo

Thang đo trong nghiên cứu được xây dựng dựa trên kế thừa các thang đo đã được kiểm chứng trong nghiên cứu quốc tế, sau đó điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Mỗi khái niệm nghiên cứu được đo bằng từ ba đến năm biến quan sát sử dụng thang Likert 5 bậc. Nghiên cứu sơ bộ định tính thực hiện với 15 chuyên gia ngành và 30 người tiêu dùng. Nghiên cứu định lượng chính thức thu thập mẫu đại diện với cỡ mẫu đảm bảo yêu cầu phân tích SEM. Phần mềm SPSS và AMOS hỗ trợ phân tích dữ liệu. Các tiêu chí đánh giá mô hình gồm chỉ số phù hợp CFI, TLI, RMSEA và độ tin cậy tổng hợp CR, phương sai trích AVE.

3.2. Đóng góp lý luận của mô hình nghiên cứu tại thị trường Việt Nam

Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về trung thành thương hiệu theo góc tiếp cận người tiêu dùng trong bối cảnh thị trường đang phát triển. Mô hình nghiên cứu tích hợp các tiếp cận từ lý thuyết tài sản thương hiệu, lý thuyết hành vi người tiêu dùng và lý thuyết cam kết – niềm tin. Đây là đóng góp lý luận quan trọng khi phần lớn nghiên cứu trước tập trung vào sản phẩm công nghiệp hiện đại. Việc áp dụng mô hình cho nhóm sản phẩm truyền thống mang tính đặc thù văn hóa cao tạo ra tri thức mới cho lĩnh vực quản trị thương hiệu tại Việt Nam và các nền kinh tế có ngành nghề truyền thống tương đồng.

IV. Kết luận và hàm ý quản trị nhằm tăng cường trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống

Kết quả nghiên cứu xác nhận sáu yếu tố đều có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến sự trung thành thương hiệu. Niềm tin thương hiệu và sự hài lòng có mức độ tác động mạnh nhất. Hình ảnh thương hiệu và tác động thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ ban đầu. Chất lượng cảm nhận và cam kết thương hiệu củng cố hành vi mua lặp lại. Các cơ sở sản xuất bánh kẹo truyền thống cần ưu tiên đầu tư vào kiểm soát chất lượng và xây dựng câu chuyện thương hiệu gắn với di sản văn hóa. Đặt tên thương hiệu rõ ràng, thiết kế bao bì chuyên nghiệp và tạo dấu ấn cảm xúc qua các kênh truyền thông địa phương là giải pháp thiết thực. Cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành chính sách hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bánh kẹo truyền thống. Liên kết giữa các cơ sở sản xuất trong chuỗi giá trị sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh thương hiệu vùng. Đây là nền tảng để bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

4.1. Giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu bánh kẹo truyền thống

Các doanh nghiệp và hộ sản xuất cần xây dựng nhận diện thương hiệu nhất quán gồm tên gọi, logo, bao bì và câu chuyện sản phẩm. Đầu tư vào kiểm soát chất lượng nguyên liệu và quy trình sản xuất tạo nền tảng cho chất lượng cảm nhận bền vững. Hoạt động truyền thông cần khai thác yếu tố văn hóa, di sản và bản sắc vùng miền để tạo tác động cảm xúc mạnh mẽ. Chương trình khách hàng thân thiết và chính sách hậu mãi tốt tạo môi trường nuôi dưỡng sự hài lòng và niềm tin. Tham gia các hội chợ thương mại, lễ hội ẩm thực địa phương giúp tiếp cận người tiêu dùng mới và củng cố mối quan hệ với khách hàng hiện tại.

4.2. Hàm ý chính sách và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho đăng ký bảo hộ thương hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm bánh kẹo truyền thống có giá trị văn hóa cao. Chương trình đào tạo quản trị thương hiệu dành cho chủ cơ sở sản xuất làng nghề sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi địa lý và so sánh liên vùng để xác định sự khác biệt trong hành vi người tiêu dùng. Nghiên cứu tác động của thương mại điện tử và mạng xã hội đến lòng trung thành thương hiệu bánh kẹo truyền thống cũng là hướng nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành thương hiệu của người tiêu dùng với nhóm sảnphẩm bánh kẹo truyền thống khu vực miền trung tây nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI Thương hiệu và sự TTTH của NTD được nghiên cứu từ năm 1980 với nhiều góc độ và các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Đối với TTTH, các nghiên cứu cũng chỉ ra được sự TTTH là sự nhận thức đối với TH và sự tận tâm mua cùng một SP hoặc dịch vụ lặp đi lặp lại, bất kể những hành động của đối thủ cạnh tranh hay sự thay đổi của yếu tố môi trường (Hur và cộng sự, 2011); hay sự TTTH của NTD chính là hành vi mua SP từ cùng một nhà sản xuất nhiều lần và không dao động khi gặp phải SP từ các nhà cung cấp khác (Hiệp hội Marketing Hoa kỳ, 2012). Như vậy, có thể nhận thấy, khi NTD trung thành thì TH và SP đó đã tạo được cảm xúc tích cực, sự uy tín và lòng tin tưởng của NTD được biểu hiện bằng hành vi mua lặp lại và thái độ tốt với SP mang thương hiệu đó, làm cho số lượng hàng bán của DN tăng lên.

Hiện nay, các DN luôn dành sự quan tâm đến nhóm NTD trung thành, việc thiết lập và duy trì lực lượng lớn NTD trung thành sẽ mang lại giá trị cho DN, bao gồm: (1) thị phần được đảm bảo và ổn định doanh thu; (2) loại trừ được các khoản chi phí; (3) TH được hỗ trợ và bảo vệ tốt hơn; (4) NTD dễ dàng bỏ qua những thiếu sót của DN. Rõ ràng với những lợi ích đã được xác nhận, sự cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTTH của NTD nhằm tìm ra chiến lược, giải pháp phù hợp nhằm để duy trì và tăng cường sự TTTH của NTD đòi hỏi các DN phải thực hiện gấp rút hiện nay. Mặt khác, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã thiết lập, đo lường và chứng minh được mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTTH của NTD đối với từng SP, nhóm SP, dịch vụ cụ thể điển hình như: SP tiêu dùng nhanh (Hồ Chí Dũng, 2013), SP sữa tươi (Đặng Thị Kim Hoa và Bùi Hồng Quý, 2017), SP nông sản xoài cát TH Hòa Lộc (Nguyễn Quốc Nghi, 2016), kẹo socola (Kuikka and Laukkanen, 2012), (Puška và cộng sự, 2019), bánh gạo Hàn Quốc (Kim và Yim, 2014), dịch vụ bán lẻ tại ngân hàng (Nguyễn Thị An Bình, 2016),… Tuy nhiên, đối với nhóm SP BKTT thì chưa có nghiên cứu cụ thể nào tìm hiểu sự TTTH của NTD đối với nhóm SP này; chưa có nghiên cứu nào thiết lập và đo lường sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự 2 TTTH của NTD đối với nhóm SP này. Do vậy, việc nghiên cứu, thiết lập và đo lường sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTTH của NTD đối với nhóm SP BKTT sẽ có sự khác biệt so với các SP, nhóm SP, dịch vụ cá biệt khác.

Bên cạnh đó, sự khác biệt sẽ rõ hơn khi nghiên cứu được tiến hành đối với bối cảnh tại thị trường Việt Nam, cụ thể là tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, là nơi có rất nhiều các SP BKTT có đặc điểm và đặc trưng riêng biệt. Theo Tổng cục thống kê (2019), tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2019 đạt mức cao nhất là 7,02%; GDP danh nghĩa trung bình trên mỗi bình quân đầu người đạt xấp xỉ 2. Hơn nữa, Việt Nam với quy mô dân số đứng thứ 14 trên thế giới (khoảng 95 triệu) là một thị trường đầy cơ hội, và theo dự báo sẽ nằm trong số 20 thị trường hàng đầu thế giới vào năm 2050 (GSO, 2019; PwCVietnam và VCCI, 2019). Bên cạnh đó, theo Nielsen (2019) cho biết chỉ số niềm tin của NTD Việt Nam đạt được điểm số lớn nhất tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thuộc top ba trên thế giới về chỉ số này.

Kết quả này có được nhờ vào sự gia tăng của sức mua của NTD, trong đó nổi bật với ngành hàng thực phẩm. Theo Statista (2019), doanh thu từ mảng bánh kẹo được dự báo lên tới 1.355 triệu USD, làm cho mức tiêu thụ dự kiến sẽ ở mức 2,3 kg/người vào năm 2020. Số liệu dự báo trên phù hợp với thực tế đặc điểm tiêu dùng của bánh kẹo tại Việt Nam, trong đó có SP BKTT nổi bật với đặc điểm tiêu dùng mang tính thời vụ rõ rệt, sức mua của thị trường sẽ tăng trưởng dần từ lễ Tết Trung Thu sang lễ Tết Nguyên Đán. Trong giai đoạn này, NTD có xu hướng tiêu thụ các SP bánh kẹo mang tính chất truyền thống hơn các SP bánh kẹo được sản xuất hiện đại như bánh trung thu, kẹo sen, kẹo dừa, mứt bí, mứt mãng cầu xiêm, bánh đậu xanh địa phương từ các TH như Kinh Đô, Gia Bảo, Bảo Hiên Rồng Vàng, hay Bảo Minh (VietnamNews, 2018).

Do đó, tại Việt Nam, thị trường bánh kẹo nói chung, và SP BKTT nói riêng được công nhận là một thị trường tiêu dùng năng động có giá trị lớn với tiềm năng phát triển lớn cho các DN và các cơ sở SXKD nhóm SP này. Từ những số liệu trên, rõ ràng có thể thấy, đây chính là một cơ hội của ngành bánh kẹo, trong đó có SP BKTT. Tuy nhiên, không phải DN hay cơ sở SXKD nào cũng nắm bắt và tận dụng được cơ hội này. Đối với nhóm SP BKTT, mức độ đòi hỏi của NTD đối với SP này càng khắc khe hơn với những vấn đề về đặc điểm dinh dưỡng, những giá trị mang lại đối với tinh thần, tính văn hóa trong SP được tiêu dùng,… Bên 3 cạnh đó, sự khốc liệc trong cạnh tranh của BKTT với các SP bánh kẹo nhập khẩu đến từ Thái Lan, Trung Quốc, Đan Mạch, Hàn Quốc,… hoặc các DN toàn cầu tham gia vào thị trường Việt Nam như Orion, Lotte, Nestlé hoặc Mondelēz ngày càng tăng cao.

Mặt khác, một thực trạng đáng buồn đang diễn ra là sự mai một, giảm sút của một số SP BKTT trên thị trường, chất lượng của SP không đảm bảo, các đơn vị SXKD không quan tâm đến NTD trung thành. Điều này đòi hỏi các DN và các đơn vị SXKD bánh kẹo Việt Nam cần phải chú trọng hơn đối với hoạt động cải tiến chất lượng, bao bì của SP, thực thi các chiến dịch marketing và đặc biệt là tìm hiểu và làm rõ được các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự TTTH của NTD nhằm đề ra các biện pháp, chiến lược quản trị TH hiệu quả, góp phần gia tăng số lượng NTD trung thành đối với SP và TH. Đồng thời, qua kết quả của thực trạng hoạt động XD&PT TH nhóm SP BKTT tại các đơn vị SXKD sản phẩm BKTT khu vực Miền Trung - Tây Nguyên được trình bày cụ thể tại Chương 4 của luận án có thể nhận thấy, thực trạng nhận thức hầu hết của các đơn vị SXKD về TH nhận định rằng một TH mạnh có thể tạo ra được sự TTTH của NTD; đối với thực trạng nhận thức của cơ sở SXKD với quá trình XD&PT TH lại đòi hỏi các đơn vị SXKD sản phẩm BKTT cần phải đi sâu nghiên cứu sự TTTH của NTD, tìm ra các yếu tố và mức độ tác động đến sự TTTH của NTD, từ đó tìm ra các chiến lược nhằm tăng cường sự TTTH; bên cạnh đó, thực trạng hoạt động xúc tiến bán hàng nhằm phát triển TH lại cho thấy rõ việc các đơn vị SXKD sản phẩm BKTT triển khai các hình thức xúc tiến bán hàng còn quá nghèo nàn, trình độ hoạt động xúc tiến đang ở mức thấp, chủ yếu theo kiểu bán hàng truyền thống, không tạo được NTD thường xuyên dẫn đến NTD trung thành. Từ những luận cứ nêu trên, việc nghiên cứu luận án với chủ đề “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành thương hiệu của người tiêu dùng với nhóm sản phẩm bánh kẹo truyền thống khu vực Miền Trung - Tây Nguyên” có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Hiện nay, vấn đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTTH của NTD với các nhóm SP sử dụng mô hình TH tập thể, trong đó có nhóm các SP BKTT đang được quan tâm và có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Đối với luận án này, để thực hiện 4 được mục tiêu của luận án, các nội dung nghiên cứu cần phải tổng quan theo các góc độ, bao gồm: (1) Tổng quan nghiên cứu về TSTH và mối tương quan giữa sự TTTH và TSTH (2) Tổng quan nghiên cứu về sự TTTH của NTD và các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTTH của NTD (3) Tổng quan nghiên cứu về nhóm SP BKTT và làng nghề truyền thống 1. Tổng quan nghiên cứu về tài sản thương hiệu và mối tương quan giữa sự trung thành thương hiệu và tài sản thương hiệu Trong các nghiên cứu trước đây về TSTH và mối tương quan giữa sự TTTH của NTD và TSTH, những nội dung chính được đề cập như sau: Thứ nhất, tiếp cận vấn đề TSTH Có nhiều góc tiếp cận đối với TSTH, góc tiếp cận theo tài chính có các nghiên cứu của Aaker (1996), Spielmann (2014) đều cho rằng TSTH là giá trị tăng thêm do thương hiệu mang lại; góc tiếp cận theo NTD với các nghiên cứu của Quan (2006), Keller (2013), Huong và Lin (2011), Saleem và cộng sự (2015) đều có điểm chung cho rằng TSTH là ý kiến, là kiến thức, là sự nhận thức của NTD về TH. Thứ hai, tiếp cận vấn đề mối tương quan giữa sự TTTH của NTD và TSTH Aaker (1996), Keller (1998) đã tiếp cận TSTH theo góc độ NTD và thiết lập các thang đo dùng để kiểm định và đo lường TSTH và các yếu tố cấu thành chủ yếu; từ đó có sự kế thừa và phát triển các mô hình trong các nghiên cứu tiếp theo đối với các yếu tố ảnh hưởng đến TSTH, dựa trên các thang đo, trong đó có yếu tố sự TTTH.

Điều này chứng minh được tồn tại mối tương quan chặt chẽ giữa sự TTTH và TSTH và khẳng định yếu tố sự TTTH là yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến TSTH, có ảnh hưởng trực tiếp đến TSTH của DN. Tóm lại, kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra được những thành phần cấu thành và mức độ ảnh hưởng đối với TSTH trong mối tương quan với sự TTTH. Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào tiến hành nghiên cứu sự TTTH của NTD đối với nhóm SP BKTT đối với bối cảnh nghiên cứu là tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ