Chương 1 CÔNG NGHIỆP DA GIÂY VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC CÔNG NGHIỆP HOÁ HƯỚNG VỂ XUẤT KHẨU 1.1 CHIẾN LƯỢC CÔNG NGHIỆP HOÁ HƯỚNG VE XUẤT KHAU 1.1 Cư sư lý thuyết và nội dung của chiến lược Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu có lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử phát triển thương mại quốc tế. Năm 1776, trong tác phẩm nổi tiếng "Của cải của các dân tộc", Adam Smith (1723-1790) đã đưa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Theo đó, một nước sẽ có lợi nếu tập trung chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyệt đối (bao gồm cả lợi thế tự nhiên và lao động). Sản xuất và trao dổi sản phẩm dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cả quốc gia xuất khẩu lẫn quốc gia nhập khẩu và có lợi cho toàn bộ thế giới nói chung.
Nhưng theo ông, thương mại quốc tế không thể diễn ra giữa hai nước mà lợi thế tuyệt dối dồn hết về một bôn. Điều hạn chế này của Adam Smith dã dược David Ricardo (1772-1823) phát hiện và dưa ra lý thuyết lợi thế so sánh. Theo đó, thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa hai quốc gia mà lợi thế tuyệt đối dồn hết về một bên. Một nước có hiệu quả sản xuất thấp hơn (chi phí sản xuất cao hơn) trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì nước đó vãn có thể tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và trao đổi ngoại thương thông qua việc khai thác các sản phẩm có lợi thế so sánh.
Lợi thế so sánh được xác định thông qua thanh toán chi phí cơ hội để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trên cơ sở so sánh chi phí sản xuất các loại sản phẩm khác nhau. Tư tưởng"lợi thế so sánh" của David Ricardo là nền tảng cơ bản cho sự ra đời của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là phát huy lợi thế so sánh - 7 - ///sr/ fô ftâ n è£f/â/f /uĩíỉ {7/fa? >// ẩùn/t / / của đất nước để xây dựng cơ cấu kinh tế hướng ra thị trường nước ngoài. Theo đó, các nước sẽ xuất khẩu các sản phẩm mà chi phí sản xuất trong nước nhỏ hơn và nhập khẩu các sản phẩm có chi phí sản xuất trong nước lớn hơn chi phí bình quân quốc tế.2 Yêu cầu đối với hoạch (lịnh và thực hiện chiến lược Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu đặt nền kinh tế quốc gia trong mối quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế, buộc sản xuất trong nước phải luôn luôn đổi mới công nghệ, không thể tồn tại với năng suất thấp kém, phải nhanh chóng nâng cao khả năng tiếp thị.
Đích cuối cùng là phải đáp ứng nhanh nhậy nhu cầu với giá rẻ đối với cả thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế. Hướng về xuất khẩu không có nghĩa là xem nhẹ nhu cầu trong nước, không loại trừ hay phủ định sự tăng trưởng của nhập khẩu mà nhằm vào mục tiêu tăng trưởng cả xuất khẩu và nhập khẩu theo hướng cải thiện cán cân thương mại cũng như tạo tiền đề để xác lập cơ cấu thương mại hợp lý, tiến bộ của mỗi nước. Hướng về xuất khẩu là nhiệm vụ chiến lược của toàn bộ nền kinh tế, của toàn xã hội chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của một ngành, một lĩnh vực nào đó. Vấn đề xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược đều hướng vào mục tiêu tăng trưởng thông qua hoạt dộng xuất khẩu hoặc phục vụ xuất khẩu.
Hướng về xuất khẩu không dược gây tổn thương đến các vấn dề dộc lập dân tộc, định hướng phát triển lựa chọn, truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc.; phải hết sức coi trọng hiệu quả kinh tế - xã hội và giữ dìn môi trường sinh thái. Hướng mạnh về xuất khẩu phải bao gồm cả xuất khẩu hàng hoá hữu hình cũng như hàng hoá vô hình. Lúc đầu, thường chú trọng xuất khẩu hàng hoá hữu hình, nhưng về lâu dài cần chủ động tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng hoá vô hình và tăng tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm xuất khẩu để nâng cao hiệu quả. Cần phải thiết lập một lộ trình thích hợp và có hiệu quả trên cơ sở kết hợp hài hoà thực trạng trong nước với các xu hướng kinh tế chính trị trên trường quốc tế.
8 - d l t ĩ / c&tfàft ^ĩ)ff'f>'e Ẩ?fỉộft v à ft Q /tạ e j ụ A ìtt/t fê ở giai đoạn đầu (giai đoạn tạo tiền đề vật chất cần thiết) cần có nhập siêu nhưng chủ yếu là máy móc thiết bị, vât tư; cần phải xuất khẩu một phần nguyên liệu, khoáng sản để lấy ngoại tệ cho nhập khẩu. Để phát huy lợi thế về tài nguyên đa dạng phong phú có giá trị kinh tế cao, lao động dồi dào và giá nhân công rẻ, trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, các nước đang phát triển thường tập trung phát triển các ngành khai thác và xuất khẩu sản phẩm thô (công nghiệp khai khoáng) sang các nước công nghiệp phát triển làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Sự phát triển này nhằm tạo nền tảng ban đầu cho sự phát triển các ngành chế biến, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc nẩy sinh do kinh tế chậm phát triển gây nên. Tuy vậy, về lâu dài việc phát triển như vậy gặp một số khó khăn:.
Cầu sản phẩm thô trên thị trường thế giới tăng chậm. Điều kiện trao đổi bất lợi cho các nước nghèo: giá nguyên liệu thô tăng chậm, giá sản phẩm chế biến tăng nhanh. Phụ thuộc vào sự đầu tư của các nước công nghiệp phát triển. Sự phát triển của đất nước lệ thuộc vào sự phát triển của ngành này do chuyên môn hoá quá mức.
Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao dộng, trong đó có ngành công nghiệp da giầy, cũng được chú trọng phát triển nhằm khai thác lợi thế về nhân công. Sự phát triển mạnh mẽ của những ngành này góp phần tạo tiền dề quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, làm cho cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm thô, tăng tỷ trọng sản phẩm qua chế biến. Giai đoạn tiếp theo gắn liền với quá trình "cất cánh" của đất nước. Tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng lao động cao giảm xuống, tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao tăng lên, các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp kỹ thuật cao sẽ giữ vị trí trọng yếu đóng góp vào xuất khẩu.
Dần dần các ngành này sẽ có khả năng cạnh tranh trực tiếp trên thị trường quốc tế. Bước di trong quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu có sự đan xen. Ngay từ khi tập trung phát triển các ngành khai thác người ta cũng đã xây dựng các cơ sở của ngành công nghiệp chế biến, thậm - 9 - Jta r c&aân f&aWc Ẩ ỉuận turn ĩs/ta r Jfj iừ n/t iê chí có cả các ngành kỹ thuật cao, chứ không phải chờ đến giai đoạn sau mới phát triển các ngành này.3 ưu nhưực điểm của chiến lược 1.1 ư u điểm - Tạo diều kiện khai thác có hiệu qủa các tiềm năng của đất nước, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, tăng thu ngoại tệ, từ đó tăng khá năng nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. - Tạo khả năng thay đổi cơ cấu kinh tế một cách năng động.
Đẩy mạnh xuất khẩu tác động đến các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành sản xuất, tạo ra "mối liên hệ ngược" thức dẩy sự phát triển của các ngành này. Khi tích luỹ của các ngành kinh tế được nâng cao, sản phẩm thô sẽ tạo ra "mối liên hệ xuôi" cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến. - Cùng với sự phát triển phân công lao dộng quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, hàng hoá sản xuất trong nước ngày càng nhiều hơn so với sức mua của thị trường nội địa. Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ ngăn ngừa được tình trạng ứ đọng sản phẩm, thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước và loại trừ được khủng hoảng kinh tế.
- Tạo điều kiện để thâm nhập và chiến lĩnh các thị trường trên thế giới còn bỏ trống đầy tiềm năng phát triển. - Có thể thu hút một khối lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp (đi kèm với nó là kỹ thuật, công nghệ tiên tiến). Tóm lại, chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu gắn sản xuất và nền kinh tế trong nước với các hoạt động của nền kinh tế thế giới, nối kết các nền kinh tế quốc gia vói nhau, tạo ra một không gian kinh tế rộng lớn, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.2 Nhược điểm - Yêu cầu sản phẩm phải có chất lượng cao, sức cạnh tranh lớn, bảo đảm được các đòi hỏi của thị trường quốc tế. Đây là yêu cầu rất khó thực hiện đối với các nước đang phát triển.t//ftf c&ffftft & ftp's J?ffậ/t fpfftt (J/tftf- ft/ /-ỉtrt/t fê - Nền kinh tế trong nước dễ bị lệ thuộc vào những biến động của nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước bị bỏ trống, sản xuất trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh bất lợi của hàng ngoại tràn ngập.
- Nền kinh tế dễ bị mất cân dối do các ngành sản xuất hướng vào xuất khẩu phát triển với tốc độ nhanh nhờ được ưu tiên dầu tư và dổi mới công nghệ, còn các ngành sản xuất phục vụ nhu cầu nội địa bị coi nhẹ, năng suất lao dộng thấp.4 Điều kiện thực hiện chiến luực Sự thành công của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Những chính sách vĩ mô chủ yếu là: chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do. Đối với các nưóc đang phát triển, xuất khẩu chỉ mang lại lợi ích thực sự khi các nước dó có sách lược đúng đắn, vừa phù hợp với xu hướng phát triển thương mại quốc tế vừa góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn dề phát triển kinh tế quốc gia.