phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,.luận văn gồm có 3 chương: CHƢƠNG 1: Xuất khẩu vào thị trƣờng Hoa Kỳ; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. 4 CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ thời kỳ đến 2003 và những vấn đề đặt ra. CHƢƠNG 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ thời kỳ đến 2010. 5 CHƢƠNG 1 XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ; MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ và trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế. Do đó, “mở cửa”, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khu vực và việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, không có quốc gia nào có thể phát triển nhanh nếu thực hiện chính sách “đóng cửa”, tự cấp, tự túc. Ngược lại, những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều là những nước biết dựa vào phát triển kinh tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, biết dựa vào những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ để hiện đại hoá sản xuất, biết khai thác các nguồn lực bên ngoài để phát huy các nguồn lực trong nước.
“Mở cửa”, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực thì ngoại thương được coi là “mũi nhọn”. Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình và vô hình, gia công, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất tái nhập, xuất khẩu tại chỗ (bán hàng thu ngoại tệ trong nước)…Trong đó, xuất khẩu là hướng ưu tiên và là một trọng điểm của hoạt động ngoại thương các nước nói chung và nước ta nói riêng, bởi nó liên quan đến phương thức xâm nhập thị trường. Phương thức xâm nhập thị trường là một sự sắp xếp có tổ chức cần thiết cho sự xâm nhập thị trường của sản phẩm, kỹ thuật, nguồn vốn, con người của một doanh nghiệp vào một 6 quốc gia hay một thị trường nước ngoài. Hình thức đơn giản và dễ dàng đáp ứng nhu cầu của thị trường nước ngoài là xuất khẩu.
Hoạt động xuất nhập khẩu có tính đặc thù là hoạt động ở thị trường nước ngoài, khách hàng phần lớn là các đối thủ có kinh nghiệm dày dạn trong hoạt động thương mại quốc tế, có tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao…Vì thế, hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu là khó khăn phức tạp đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường trong và ngoài nước nhanh nhạy, chính xác, có đội ngũ cán bộ tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ, về hệ thống luật pháp, thông lệ thương mại quốc tế và có lập trường chính trị vững vàng thì mới đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu chủ động, hiệu quả cao, tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân. Vai trò của ngoại thương nói chung, xuất khẩu nói riêng đã được khẳng định cả về mặt lý luận và thực tiễn, đó là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế và do đó góp phần quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phải trải qua những thử thách gay go trong cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong quá trình đó, các doanh nghiệp không những cố gắng cải tiến, nâng cao chất lượng hàng hoá, phải giảm chi phí sản xuất, mà còn có những cơ hội tiếp xúc với những công nghệ mới và bí quyết kinh doanh, do vậy có thể nâng cao được trình độ công nghệ sản xuất, quản lý và tiếp thị.
Xuất khẩu cũng đã góp phần vào giải quyết những vấn đề cấp bách của xã hội như: tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự biến đổi của thị trường thế giới. 7 Tất cả những đóng góp trên đây của hoạt động xuất khẩu đã góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tạo dựng những cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh. XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ 1. Thị trƣờng Hoa Kỳ 1.
Vài nét về kinh tế Hoa Kỳ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có diện tích 9. Tính đến tháng 07/ 2001, dân số Hoa Kỳ khoảng hơn 278 triệu người. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 9.963 ngìn tỷ USD, GDP/người của Hoa Kỳ năm 2000 là 33. Hoa Kỳ, một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, quốc gia dẫn đầu công nghiệp thế giới về các phân ngành đa dạng và áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất như: hoá dầu, luyện kim, ô tô, thiết bị động cơ, hàng không, vũ trụ, viễn thông, hoá chất điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai khoáng và gỗ.
Năm 1999, trong cơ cấu nền kinh tế Hoa Kỳ, nông nghiệp chiếm 2%, công nghiệp: 18%, dịch vụ: 80%. Hoa Kỳ chính là nước có lĩnh vực phát triển dịch vụ cao nhất thế giới [30]. Giai đoạn 1994 – 1999 là thời kỳ Hoa Kỳ đạt tăng trưởng kinh tế cao, mức lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%. Các công ty lớn của Hoa Kỳ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của kinh tế Hoa Kỳ, chi tiêu Chính phủ cũng chiếm một phần quan trọng trong toàn bộ chi tiêu khổng lồ của một xã hội tiêu dùng.
Hoa Kỳ vốn có thị trường quốc nội rất lớn (nước Nhật cũng không bằng) và một thị trường rất thống nhất (Châu Âu không có được). Nhu cầu trong nước là 8 động lực chủ yếu để phát triển. Hoa Kỳ cũng có một thị trường ngoài nước rất to lớn, ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và còn có một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới. Do đó, có thể nói thị trường Hoa Kỳ có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường thế giới và cả nền kinh tế các nước trên thế giới.
Phải nói thêm rằng, Hoa Kỳ có ưu thế về kinh tế vùng ven. Quan hệ vùng ven của Hoa Kỳ có tính toàn diện, bao gồm vùng Bắc Mỹ là Sở thuộc (khuôn vào tổ chức “Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ – NAFTA”, cũng bao gồm Châu á - Thái Bình Dương) và hướng đến Châu Âu (trong dự tính của Mỹ sẽ có “Khu mậu dịch tự do Âu - Mỹ”). Chính điều này đã làm cho quan hệ và sự ảnh hưởng của kinh tế đối ngoại Hoa Kỳ có “quyền uy” ở bất cứ khu vực nào trên thế giới. Có thể nói, sự kiện khủng bố ở nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã làm chấn động và kinh hoàng cả nước Mỹ và thế giới.
Do đó, tăng trưởng thương mại thế giới giảm từ mức 12%/năm (năm 2000) xuống còn 5,5% (năm 2001). Cả IMF, OECD, WB đều thống nhất nhận định, kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng năm 2001 chỉ đạt 1,1% tức là giảm 4,1% so với năm 2000. Những năm 2002 – 2003 kinh tế Mỹ có sự phục hồi và tăng trưởng ở mức chậm. Mặc dù vậy, Hoa Kỳ vẫn là cường quốc kinh tế hàng đầu và là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
Tiềm năng nhập khẩu của Hoa Kỳ Một là, tiềm năng chung: Hoa Kỳ có một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới. Năm 1988, hàng hoá nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 800 tỷ USD. Năm 2002, kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 1408,3 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: dầu thô, các sản phẩm dầu tinh chế, máy móc, ô tô, hàng tiêu dùng, vật liệu công nghiệp, thực phẩm và đồ uống.
Trong đó thủy sản, dệt may, giày dép, cà phờ là những mặt hàng nhập khẩu với số lượng lớn. Chẳng hạn năm 2000 9 Hoa Kỳ nhập khẩu 19 tỉ USD mặt hàng thủy sản, trong đó riêng tôm là 3,76 tỉ USD; Hàng dệt may năm 2000 nhập 76 tỉ USD, năm 2001 nhập 75,1 tỉ USD. Năm 2002 hàng hoá nhập khẩu chiếm 1.166,9 tỷ USD và dịch vụ chiếm 243,3 tỷ USD. Những mặt hàng nhập khẩu gần đây có sự tăng trưởng là hàng tiêu dùng, bia, thực phẩm,…và những mặt hàng có sự suy giảm là nguyên vật liệu, thiết bị công nghiệp, ô tô và phụ tùng,…Tất cả những con số trên cho thấy Hoa Kỳ là một nước nhập siêu và là một thị trường đầy tiềm năng đối với các nước trên thế giới.
Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất đa đạng về chủng loại và được phân theo các nhóm hàng sau: Bảng 1.1: Tình hình nhập khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ 1997 - 1998 Đơn vị tính: Triệu USD Năm 1997 Năm 1998 NHÓM NGÀNH HÀNG Giá trị Tỉ trọng% Giá trị Tỉ trọng% 1. Thực phẩm, thức ăn gia 39. Nguyên liệu và vật liệu 213. Ô tô, xe tải, phụ tùng và 140.
Hàng tiêu dùng 192. Nhóm hàng hoá khác 29.828 100 Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.A [16, 25] 10 Hoa Kỳ là một thị trường lớn về nhiều loại hàng hoá và dịch vụ với các dải phân đoạn thị trường rất rộng lớn có thể thu hút, tiêu thụ vô số chủng loại hàng hoá. Với hệ thống cửa hàng, siêu thị bán buôn, bán lẻ rộng khắp và tâm lý thích tiêu dùng, mua sắm của người Mỹ, Hoa Kỳ đã, đang và sẽ là một thị trường đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp và công ty các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Các chủng loại hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều có số lượng lớn, đây là một yếu tố thuận lợi mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt để tăng cường xuất khẩu và đầu tư tái sản xuất mở rộng.
Hai là, một số nhóm ngành hàng nhập khẩu chủ yếu mà Việt Nam có nhiều lợi thế để đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, đó là: * Nhóm thực phẩm, thức ăn gia súc và đồ uống: Qua số liệu thể hiện ở Bảng 1.1 cho ta thấy hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu nhóm hàng này ở mức trên dưới 40 tỷ USD. Những mặt hàng chủ yếu trong nhóm này gồm: Bảng 1.2: Tình hình nhập khẩu thực phẩm, đồ uống vào Hoa Kỳ 1998 Đơn vị tính: Triệu USD TT Mặt hàng 1997 1998 98/97 1. Trái cây và nước quả cô đặc 4. Sản phẩm thịt 4.
Cà phê hạt 3.