lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu – sơ đồ - hình vẽ, danh mục từ viết tắt, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Bài nghiên cứu gồm bốn phần chính tƣơng ứng với bốn chƣơng: Chƣơng I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng II: Cơ sở lý luận về cơ hội và thách thức khi xuất khẩu sản phẩm trong bối cảnh thực thi Hiệp định thƣơng mại tự do. Chƣơng III: Cơ hội và thách thức khi xuất khẩu các sản phẩm từ nhựa PE, PP sang thị trƣờng EU trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thƣơng mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) của Công ty Cổ phần Nhựa Hƣng Yên Chƣơng IV: Định Hƣớng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và đối phó thách thức khi xuất khẩu các sản phẩm từ nhựa PE, PP sang thị trƣờng EU trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thƣơng mại tự do Việt Nam - EU của Công Ty Cổ phần Nhựa Hƣng Yên. 8 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO 2.
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá 2. Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá Theo Giáo trình Kinh tế quốc tế, nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất, sẽ tạo ra một khối lƣợng hàng hoá lớn đáp ứng không chỉ đủ nhu cầu trong nƣớc mà còn có thể xuất khẩu ra nƣớc ngoài để trao đổi với hàng hoá mà trong nƣớc sản xuất không hiệu quả. Còn theo học thuyết “lợi thế so sánh” của David Ricardo thì khi một quốc gia sản xuất mặt hàng có lợi thế so sánh và trao đổi nó với quốc gia khác thì vẫn đem lại lợi nhuận cho cả hai quốc gia. Nhƣ vậy, xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động tất yếu xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt đƣợc một trình độ nhất định.
Ta có nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu nhƣ: Thƣơng mại quốc tế (TMQT) hay còn gọi là xuất khẩu là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế (Krugman, Obstfeld & Melitz, 2011). Hay theo Điều 28 Khoản 1 của Luật thƣơng mại 2005 thì xuất khẩu đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc đƣa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Một định nghĩa khác của Feenstra và Taylor (2010) về xuất khẩu đƣợc đƣa ra trong giáo trình Thƣơng mại quốc tế đó là: “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm đƣợc bán từ nƣớc này sang nƣớc khác”.
Nhƣ vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, nhƣng đều dựa trên một định nghĩa cốt lõi: xuất khẩu là việc bán hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng quan hệ kinh tế đối ngoại, là một động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế đƣợc thể hiện trên những mặt sau: 9 * Đối với nền kinh tế thế giới Thứ nhất, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các nền kinh tế thế giới. Xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của một quốc gia với quốc gia khác.
Nó là một sợi dây liên kết các nền kinh tế trên thế giới, tạo điều kiện cho các quốc gia trao đổi sản phẩm, dịch vụ với nhau, đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng trên toàn cầu. Nếu không có xuất khẩu, các quốc gia sẽ bị cô lập, nền kinh tế không thể phát triển. Việc xuất khẩu đƣợc đẩy mạnh sẽ giúp cải thiện mối quan hệ quốc tế. Khi các quốc gia trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, họ sẽ hiểu nhau hơn, từ đó tạo dựng mối quan hệ thân thiện, hợp tác.
Các nƣớc cùng chung tay tạo nên 14 những môi trƣờng kinh doanh hoàn thiện, lành mạnh, giúp nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển theo hƣớng tích cực. Tính đến nay, ngày càng nhiều quốc gia, khu vực chủ động trong việc tiến hành liên kết, hợp tác với nhau để xóa bỏ các rào cản, hàng hóa xuất khẩu lƣu thông dễ dàng hơn. Thứ hai, xuất khẩu đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn lực, nguồn tài nguyên. Hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, từ đó khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của mỗi quốc gia.
Mỗi quốc gia sẽ tập trung sản xuất những hàng hóa, dịch vụ mà mình có lợi thế, từ đó nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Điều này đã góp phần thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn lực, nguồn tài nguyên của thế giới. * Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia xuất khẩu Thứ nhất, xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nƣớc, tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình phát triển đất nƣớc. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán hàng hóa, dịch vụ của một quốc gia với quốc gia khác.
Khi hàng hóa, dịch vụ đƣợc xuất khẩu, quốc gia đó sẽ thu về một lƣợng ngoại tệ tƣơng ứng. Nguồn ngoại tệ này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ và là nguồn vốn chính để nhập khẩu các 10 trang thiết bị, máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu,… phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế đất nƣớc. Thứ hai, xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, thông qua việc: Làm gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác. Ví dụ, việc xuất khẩu gạo, cà phê sẽ thúc đẩy phát triển ngành chế biến thực phẩm, ngành công nghiệp chế biến chế tạo thiết bị phục vụ ngành chế biến thực phẩm.
Hay tạo ra khả năng mở rộng thị trƣờng tiêu thụ. Khi sản phẩm đƣợc xuất khẩu sang thị trƣờng nƣớc ngoài, doanh nghiệp sẽ có thêm thị trƣờng để tiêu thụ sản phẩm, giúp cho hoạt động sản xuất phát triển và đi vào ổn định. Thứ ba, xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Gia tăng xuất khẩu đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời dân, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở quốc gia.
Điều này giúp gia tăng thu nhập, nâng cao thu nhập bình quân đầu ngƣời, góp phần gia tăng 15 GDP quốc gia và nâng cao chất lƣợng đời sống xã hội. Đồng thời xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu các sản phẩm không thể sản xuất trong nƣớc hoặc có giá trị rẻ hơn sản phẩm trong nƣớc để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, yêu cầu chất lƣợng cao của nhân dân. Thứ tƣ, xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Cụ thể, giữa hoạt động xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại tồn tại quan hệ tƣơng hỗ, bổ sung cho nhau.
Về phía xuất khẩu, việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ giúp quốc gia tăng cƣờng sự hợp tác quốc tế, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trƣờng thế giới. Khi các quốc gia có nhiều trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, mối quan hệ giữa họ sẽ trở nên gắn bó hơn, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác nhƣ đầu tƣ, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa,… Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo ra nguồn ngoại tệ, góp phần ổn định cán cân thanh toán quốc tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị, công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất. Về phía các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, các hiệp định thƣơng mại tự do, các thỏa thuận hợp tác kinh tế,… giữa các quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận 11 lợi cho hoạt động xuất khẩu. Khi các quy định về thuế, thủ tục hải quan,… đƣợc giảm thiểu, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ sang các thị trƣờng nƣớc ngoài.” * Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu gia tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô thị trƣờng và tăng hiệu quả kinh doanh. Điều này cũng thúc đẩy doanh nghiệp gia tăng hiệu quả sản xuất và đa dạng hóa các sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhờ mở rộng thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng gia tăng, giúp doanh nghiệp tận dụng đƣợc lợi ích từ tính kinh tế theo quy mô. Thứ hai, xuất khẩu giúp nâng cao vị thế doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp không chỉ đƣợc tiếp cận với những khách hàng nội địa mà còn đƣợc mở động quan hệ mua bán hàng hóa ra các thị trƣờng các quốc gia khác, đƣợc nhiều bạn hàng quốc tế biết đến. Từ đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có thêm nhiều cơ hội mở rộng trao đổi thƣơng mại với nhiều đối tác nƣớc ngoài hơn. Thứ ba, xuất khẩu còn là cơ sở thúc đẩy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trƣớc sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của mỗi quốc gia khác, doanh nghiệp quản lý, kinh doanh… qua việc áp dụng các trang thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất và quản lý.
Từ đó, các sản phẩm đƣợc sản xuất có sự hoàn thiện về chất lƣợng, đa dạng về mẫu mã. Các hoạt động quản lý, kinh doanh nhƣ phân phối, marketing… cũng đƣợc hoàn thiện và hiệu quả hơn. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu có thể đƣợc tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào số lƣợng và các loại hình trung gian thƣơng mại. Mỗi phƣơng thức sẽ có đặc điểm riêng, có kỹ thuật tiến hành riêng.