CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VỀ XUẤT KHẨU RAU QUA TRONG BOI CẢNH HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu rau quả 1.Khái niệm xuất khẩu Quan điểm của Liên Hợp Quốc về xuất khẩu Theo Liên Hợp Quốc, 1998, Thống kê thương mại hàng hóa quốc tế - Khái niệm và định nghĩa, Series F, Số 52, Rev. 2, đoạn 111- 130 cho rằng: `* Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là việc hàng hóa rời khỏi lãnh thổ thống kê của một quốc gia. Trong hệ thống thương mại chung, định nghĩa về lãnh thổ thống kê của một quốc gia trùng khớp với lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó.
Trong hệ thống thương. mại đặc biệt, định nghĩa về lãnh thổ thống kê chỉ bao gồm một phần cụ thể của lãnh thổ kinh tế, chủ yếu là phần trùng với khu vực lưu thông tự do cho hàng hóa. Khu vực lưu thông tự do là một phần của lãnh thô kinh tế của một quốc gia trong đó hàng. hóa có thể được xử lý mà không bị hạn chế hải quan.” Quan điểm của WTO về xuất khẩu Theo định nghĩa của WTO, 2002, Ghi chú kỷ thuật (Technical Notes), trang 2, muc 1.2, cho ring: “Xuất khâu hàng hóa có nghĩa là việc vận chuyên hoặc giao hàng hóa từ lãnh thổ của một quốc gia đến một quốc gia hoặc lãnh thổ nước ngoài theo quy định của pháp luật về hải quan.” Quan điểm của EU về xuất khẩu Theo định nghĩa trong.
Hệ thống tài khoản Châu Âu (ESA 2010), dựa trên khái niệm hợp nhất với Số tay cán cân thanh toán (ấn bản lần thứ 6 (BPM6)) cho rằng: “Hoạt động xuất khâu là việc thực hiện các thủ tục nhằm cho phép xuất cảnh hàng hóa của tổ chức này ra khỏi lãnh thổ hải quan của EC. Từ quan điểm hải quan, hàng hóa xuất khâu của tô chức sẽ thay đồi trạng thái của chúng thành hàng hóa không thuộc tô chức”. 10 Quan điểm của Viét Nam về xuất khẩu Theo điều 28, Luật thương mại (2005) quy định: *'Xuất khẩu là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trong lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Như vậy, theo tác giả, xuất khâu tựu chung được hiểu là hoạt động bán hang hóa của quốc gia này, di chuyên ra khỏi lãnh thổ nội địa để sang quốc gia khác trong. khuôn khô theo quy định của pháp luật về hải quan.Các hình thức xuất khẩu Trong hoạt động thương mại quốc tế, có bốn hình thức xuất khâu chính bao gồm: xuất khâu trực tiếp, xuất khâu ủy thác, gia công quốc tế và tạm nhập tái xuất.
Trong đó: Xuất khâu trực tiếp hiểu đơn giản là hoạt động trao đồi, cung ứng hàng hóa giữa hai bên mua-bán mà ở đó, các quyền lợi, nghĩa vụ của hai bên được trao đổi, thương lượng trực tiếp, không qua trung gian trên cơ cở tuân thủ, phù hợp với pháp luật quốc. gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng. Ngược lại, hoạt động xuất khâu uỷ thác (hay còn gọi là xuất khẩu gián tiếp) là hoạt động xuất khẩu đưa hàng hóa ra nước ngoài thông qua các đơn vị trung gian có. chức năng trực tiếp giao dịch xuất khâu theo yêu cầu vì m vài lý do không thể xuất khẩu trực tiếp như khả năng tài chính hạn chế hay chưa tìm kiếm được đối tác kinh doanh.
Quan hệ giữa DN uỷ thác và DN nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác giữa hai bên. Ở Việt Nam, thường các DN quy mô nhỏ, chưa đủ tiềm lực tài chính hoặc chưa đủ tư cách pháp nhân, chưa am hiểu thị trường thương mại quốc tế sẽ sử dụng hình thức này để ủy thác cho một đơn vị thứ ba chịu trách nhiệm về nghiệp vụ xuất khâu, ví dụ như các céng ty logistic, forwarder,. Theo Khoản 1, Điều 29, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 quy định: 1I *Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thô Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng, theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam. và làm thủ tục xuất khâu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam.” Như vậy, tạm nhập tái xuất là hình thức mà thương nhân Việt Nam nhập khâu tạm thời hàng hóa vào Việt Nam, nhưng sau đó lại xuất khâu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang một nước thứ ba.
Hàng hóa này được nhập khẩu vào Việt Nam nhưng không đề tiêu thụ trong nước mà để xuất khâu sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Theo Điều 178, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 quy định: “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công đề thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thủ lao.” 'Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng nhiều hình thức gia công do nước ta có lợi thể về lực lượng lao động đông đảo, chỉ phí nhân công thấp. Ở Việt Nam, một số các mặt hàng Việt Nam gia công chủ yếu bao gồm: dệt may, da giày, điện tử, 1. Các hình thức phân phối hàng hóa xuất khẩu Khi hàng hóa được xuất khâu thành công đến tay các nhà nhập khâu, việc tiếp theo các DN cần quan tâm là hình thức phân phối hàng hóa đó tại thị trường nội địa nước nhập khâu sẽ như thế nào đề đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Việc lựa chọn hình thức phân phối trên thị trường tiêu dùng cho một loại hàng hóa sẽ một phần tác động đến việc DN đưa ra chiến lược marketing đề thu hút đúng đối tượng tiêu dùng mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Hiện nay, trong thương mại, có hai hình thức phân phối chủ yếu, thường xuyên được nhắc đến chính là bán buôn và bán lẻ. Cụ thé: - Bán buôn được hiểu là hoạt động bán hàng trong đó chủ thẻ thực hiện hành vi là các nhà phân phối lớn, đại lý các cấp.hướng đến đối tượng mua hàng là các nhà 12 bán lẻ, siêu thị,. Dưới hình thức này, hàng hóa sẽ chưa thê đến tay người tiêu dùng cuối cùng mà phải qua các bên trung gian.
Hàng hóa được bán buôn thường có số lượng bán lớn, giá rẻ hơn. - Bán lẻ được hiểu là hoạt động bán hàng, cung cấp hàng hóa trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối cùng mà không qua bắt cứ một bên trung gian nào. Hàng hóa phân phối đến tay người tiêu dùng dưới hình thức phân phối này được bán với số lượng nhỏ lẻ, giá cả cao hơn để tìm kiếm lợi nhuận. Khái quát về xuất khẩu hàng rau qua Các định nghĩa về rau quả là khác nhau giữa các quốc gia và hiện nay, chưa có một khái niệm nào cụ thể về nhóm hàng này.
Hiểu đơn giản, nhóm hàng rau quả có thể hiểu là toàn bộ danh mục sản phẩm bao gồm rau, củ, quả tươi, sơ chế và chế biến mà quốc gia, DN, cá nhân trồng trọt, sản xuất ra. Từ đó, việc xuất khâu hàng rau quả là hoạt động nhóm hàng này được xuất khâu ra nước ngoài, vượt khỏi phạm vi lãnh thổ biên giới quốc gia và vẫn đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật liên quan đến thương mại, hải quan, ngoại thương. Hiện nay, nhóm hàng rau quả được phân loại theo hệ thống HS của WCO (Tổ chức Hải quan quốc tế) gồm 3 nhóm: nhóm rau ăn được, một số rễ và củ (HS 07)- hiểu đơn giản là rau củ tươi và sơ chế; nhóm trái cây và các loại hạt ăn được (HS 08)- hiểu đơn giản là quả tươi và sơ chế; nhóm các sản phẩm chế biến từ rau, trái cây hoặc các bộ phận khác của cây (HS 20)- hiểu đơn giản là rau quả chế biến. Đặc trưng trong xuất khẩu rau quả Nhóm hàng rau quả có một số đặc trưng cơ bản bao gồm: - Thứ nhất, rau quả là sản phâm nông nghiệp có tính chất thời vụ.
Nguyên do là vì nhóm hàng này chịu ảnh hưởng lớn trực tiếp từ các yếu tố tự nhiên như khí hậu, đất đai, nguồn nước, nhiệt độ,. Do vậy, sự trao đổi mua bán rau quả cũng mang tính chất thời vụ, không loại trừ hoạt động xuất khâu. - Thứ hai, rau quả thường dễ bị hư hỏng, nhất là rau quả tươi và sơ chế. 13 Nguyên nhân xuất phát từ việc đây là nhóm sản phâm hữu cơ nên trong một thời gian ngắn nếu không được chế biến và bảo quản tốt, rau quả rất đễ bị hư hỏng.
Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng, hương vị, tác động trực tiếp đến hiệu quả xuất khâu, đặc biệt là xuất khâu sang các thị trường có khoảng cách địa lý xa và khắt khe trong vấn đề tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm. Để đảm bảo hoạt động xuất khâu rau quả tốt nhất, nhà sản xuất và nhà xuất khâu trong nước cần xây dựng hệ thống bảo quản, chế biến cân thận nhằm gìn giữ chất lượng, mẫu mã, hương vị,. song vẫn tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm. - Thứ ba, tương tự như các nhóm hàng xuất khâu khác, rau quả cũng cần được xây dựng, giám sát và duy trì chuỗi cung ứng thường xuyên liên tục từ giai đoạn trồng trọt, thu mua, sản xuất chế biến, đóng gói bao bì, vận chuyền,.
cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng. ~ Thứ tư, rau quả vốn cần một chu trình nhiều bước từ nuôi trồng, sinh trưởng và phát triển cho đến khi thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Chính vì thế, nhà sản xuất phải xây dựng kế hoạch dự báo, phát triển ngắn hạn và dài hạn đề tránh những tôn thất không đáng có hay kịp thời xử lý tốt các vấn đề phát sinh khi xuất khâu nhằm. đáp ứng đầy đủ, liên tục nhu cầu của nước nhập khâu.
Vai trò của hoạt động xuất khẩu rau quả 1. Đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP) Xuất khẩu luôn đóng vai trò đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế của một quốc gia. Tai Việt Nam, là một quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp, việc tận dụng những nguồn lực sẵn có và tiềm năng, kinh nghiệm lâu năm trong ngành, đặc biệt là nông sản, nhóm hàng rau quả chính là một trong những mặt hàng xuất khâu mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế quốc gia, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia.