phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng I: Lý luận cơ bản về chiến lƣợc xuất khẩu và vị trí của ngành cà phê trong phát triển kinh tế xã hội của Lào Chƣơng II: Thực trang sản xuất, xuất khẩu cà phê trong thời gian qua Chƣơng III: Hoạch định chiến lƣợc xuất khẩu cà phê Lào và các giải pháp thực hiện. ix LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp Quản trị Kinh doanh, tôi xin chân thành cảm ơn sƣ giúp đỡ tận tình của quý thầy cô khoa Quản trị kinh doanh, Trƣờng đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy và hƣớng dẫn cho tôi. Hơn nữa, tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn tới PGS.Nguyễn Quốc Tế; ngƣời hƣớng dẫn khoa học lòng biết ơn sâu sắc, ngƣời đã tận tâm, nhiệt hƣớng dẫn, và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chúc thầy sức khỏe, gằt hái thêm nhiều thành tựu trong công tác nghiên cứu khoa học và sự nghiệp giáo dục - đào tạo nƣớc nhà, góp phần đào tạo cho đất nƣớc những thế hệ sinh viên ƣu tú.
Xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô, anh chi, các bạn đồng học và quý vị quan tâm đến đề tài về những lời động viên, những ý kiến đóng góp chân thành, xác đáng và những sự giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài. Một lần nữa, tác giả xin trân trọng cảm ơn! PHANTHANALAY Thidtavanh Trang 1 CHƢƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƢỢC XUẤT KHẨU VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CÀ PHÊ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA LÀO 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƢỢC XUẤT KHẨU VÀ CẠNH TRANH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 1. Một số khái niệm 1.1 Khái miệm chiến lƣợc Trong những năm 1970, khi tình trạng cạnh tranh còn yếu, doanh nghiệp tìm lời nhuận bằng cách cung ứng cho thị trường sản phẩm tốt đúng mong đợi của khách hàng thì chiến lược chủ yếu của doanh nghiệp thường là những mục tiêu và bảo đảm về nguồn lực nhằm đạt được các tiêu chí và chính sách mà mình đã đề ra, và hoạch định chiến lược được xem là quá trình xác định, chọn lựa những mục tiêu cơ bản, lâu dài của doanh nghiệp để đề ra chương trình hành động và phân phối tài nguyên hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu hiệu quả tốt nhất.
Từ năm 1980 trở đi, doanh nghiệp phải đối đầu gây gắt với cạnh tranh do môi trường biến động phức tạp và thay đổi liên tục, tài nguyên thì khan hiếm, hệ thông giao thông công nghệ thông thin lại phát triển vượt bậc… lúc này, muốn dành ưu thế bền vững, hay ít nhất là cầm cự được lâu dài với đối thủ cạnh tranh thì chiến lược chủ yếu của doanh nghiệp phải thay đổi trước, phải nhằm vào việc tăng cường hiệu qủa sức mạng trong cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ và hoạch định chiến lược được hiểu là quá trình nghiên cứu môi trường hiện tài và tương lai; hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thi hành những quyết định giúp doanh nghiệp đặt được tốt nhất mục tiêu của mình. Như vậy, cả mặt mạnh lẫn Luân văn thạc sĩ kinh tế PHANTHANALAY Thidtavanh Trang 2 mặt yếu của doanh nghiệp đều sẽ được giải quyết để tranh thủ cơ hội bên ngoài và giảm thiểu các bất trắc. Như vậy theo William J.Glueck "Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và phối hợp, được thiết kế để thực hiện các mục tiêu của tổ chức".2 Khái niệm chiến lƣợc kinh doanh Theo John I Thompson, chiến lược là sự kết hợp các nguồn lực - môi trường và các giá trị cần đạt được. Thông qua việc bàn về một số khái niệm chiến lược của các nhà kinh tế, chúng ta có thể định nghiã về chiến lược như sau: Là tổng hợp các động thái cạnh tranh và phương pháp kinh doanh sử dụng bởi những người quản lý để vận hành công ty.
Là “kế hoạch chơi” của ban quản lý để: + Thu hút và hài lòng khách hàng + Chiếm giữ một vị trí thị trường + Cạnh tranh thành công + Tăng trưởng kinh doanh + Đạt được mục tiêu đã đề ra Tóm lại: “Chiến lược là phương hướng và quy mô của một tổ chức trong dài hạn: chiến lược sẽ mang lại lợi thế cho tổ chức thông qua việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực trong một môi trường cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và kỳ vọng của các nhà góp vốn”. - Các chiến lược kết hợp: Đó là các chiến lược kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau, kết hợp theo chiều ngang đôi khi được xem là các chiến lược kết hợp theo chiều dọc. Các chiến lược kết hợp theo chiều dọc cho phép Luân văn thạc sĩ kinh tế PHANTHANALAY Thidtavanh Trang 3 một công ty có được sự kiểm soát đối với các nhà phân phối sản phẩm, nhà cung cấp nguyên liệu và / hoặc đối thủ cạnh tranh trên thị trường. - Chiến lược thâm nhập thị trường: Chiến lược thâm nhập thị trường nhằm làm tăng thị phần cho các sản phẩm, dịch vụ hiện có tại các thị trường hiện có bằng những nỗ lực tiếp thị lớn hơn.
- Chiến lược phát triển thị trường: Là chiến lược liên quan đến việc đưa những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có vào những khu vực điạ lý mới. - Chiến lược phát triển sản phẩm: Là chiến lược nhằm tăng doanh thu bằng việc cải tiến hoặc sửa đổi những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại.3 Chiến lƣợc xuất khẩu trong hoạt động thƣơng mại Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP. Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005: xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Như vậy: Xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định. Luân văn thạc sĩ kinh tế PHANTHANALAY Thidtavanh Trang 4 1.4 Chiến lƣợc cạnh tranh trong xuất khẩu Định nghĩa về chiến lược của Michael E.
Theo ông chiến lược là: - Sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. - Sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh. - Việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty. Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau.
Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv.điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ". Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường.
Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa Luân văn thạc sĩ kinh tế PHANTHANALAY Thidtavanh Trang 5 các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình. Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Tiến trình hoạch định chiến lƣợc Phân tích môi trường Yếu tố môi trường tác động rất lớn đến tổ chức vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ các bước tiếp theo của tiến trình quản trị chiến lược.
Mọi chiến lược được lựa chọn điều phải hoạch định trên cơ sở của các điều kiền môi trường mà bản thân tổ chức đang chịu chi phối. Có thể chia môi trường ra làm 3 mức độ: - Môi trường vĩ mô (hay còn gọi là môi trường tổng quát): ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh nhưng không nhất thiết phải theo một các nhất định. - Môi trường tác nghiệp: được xác định đối với một ngành công nghiệp cụ thể. Mọi doanh nghiệp trong một ngành sẽ phải chịu ảnh hưởng của môi trường tác nghiệp ngành đó.
Thông thường môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp kết hợp với nhau, chúng được gọi là môi trường bên ngoài hay môi trường không kiểm soát được. - Hoàn cảnh nội bộ: bao gồm các yếu tố nội tại trong một tổ chức nhất định, đôi khi còn gọi là môi trường nội bộ hay là môi trường kiểm soát.