Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận chung về mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa 6 Chương 3: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà nội Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Hà nội 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2. Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 2. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Theo Paul A Samuel nhận định trong cuốn Kinh tế học: “Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước và bán sang nước khác”. Nhận định về cơ bản đã nêu được những đặc điểm của xuất khẩu gồm đối tượng của xuất khẩu là hàng hóa và dịch vụ với phạm vi của hoạt động xuất khẩu là không giới hạn về không gian.
Tuy nhiên do hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước nên nhận định này chưa bao quát hết các hình thức xuất khẩu cũng như hình thức tạm nhập tái xuất. Theo Feenstra và Taylor (Giáo trình Thương mại quốc tế, 2010): “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán ra từ nước này sang nước khác.” Theo Khoản 1, Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa bị đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặt biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là vùng hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Từ những nhận định trên, có thể thấy bản chất của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia.
Xuất khẩu hàng hóa dựa trên cơ sở của phân công lao động, cho phép quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, tận dụng và phát huy tối đa lợi thể của mình. Do đó, hoạt động sản xuất và thương mại diễn ra hiệu quả hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ hoạt động xuất khẩu giữa các quốc gia ngày càng diễn ra sâu rộng hơn với kim ngạch ngày càng tăng. Dù được hiểu theo cách nào thì xuất khẩu cũng là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia.
Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa 2. Đối với nền kinh tế thế giới Thứ nhất, xuất khẩu vô cùng quan trọng, là một sợi dây liên kết các nền kinh tế trên thế giới lại với nhau. Việc xuất khẩu được đẩy mạnh khiến cho nhiều mối quan hệ quốc tế được cải thiện đáng kể, các nước cùng chung tay tạo nên những 8 môi trường kinh doanh hoàn thiện, lành mạnh, nền kinh tế mỗi quốc gia cũng diễn biến theo hướng tích cực. Tính đến nay, ngày càng nhiều quốc gia, khu vực chủ động trong việc tiến hành liên kết, hợp tác với nhau để xóa bỏ các rào cản, hàng hóa xuất khẩu lưu thông dễ dàng hơn.
Thứ hai, xuất khẩu có đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn lực, nguồn tài nguyên. Hoạt động xuất khẩu đẩy mạnh việc khai thác lợi thế riêng của mỗi quốc gia một cách có hiệu quả như nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, những phát minh công nghệ,… từ đó khiến cho quá trình chuyên môn hóa quốc tế ra đời. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu tham gia vào quá trình tạo ra ngoại tệ quốc gia, góp phần quan trọng trong việc cải thiện cán cân thanh toán. Đây là phương tiện chính tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ cho hoạt động công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Về cơ bản, để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa đòi hỏi cần một lượng lớn máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến để trang bị cho sản xuất. Nhưng đối với những nước đang phát triển hầu hết ở trong tình trạng thiếu hụt vốn, thừa nguồn lao động, thiếu công nghệ. Vì vậy, việc nhập khẩu dây chuyền sản xuất hiện đại là vô cùng cần thiết, và lúc này hoạt động xuất khẩu đã tạo ra nguồn vốn ngoại tệ chính phục vụ cho việc nhập khẩu. Thứ hai, xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất.
Xuất khẩu giúp khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, do vậy, quốc gia sẽ tập trung sản xuất và cung cấp những sản phẩm có lợi thế trên quy mô lớn (quy mô sản xuất công nghiệp). Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ ba, xuất khẩu giúp giải quyết công ăn, việc làm, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Xuất khẩu một mặt hàng thì cần phải trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau, từ đó tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu lao động.
Điều này giúp tạo nguồn thu nhập cho người dân, kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Lúc này, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng lên, đời sống vật chất và tinh thần người lao động cũng từ đó được nâng cao. Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Hoạt động xuất khẩu và hoạt động thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại có mối 9 quan hệ qua lại với nhau và dựa vào nhau để phát triển.
Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao vị thế của nước ta trên thị trường thế giới. Mặt khác, các quan hệ kinh tế đối ngoại cũng tạo tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu. Do đó, các quốc gia sẽ chú trọng phát triển đồng thời để đảm bảo sự cân xứng, tạo điều kiện để phát triển nhanh nhất. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.
Do phải chịu sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các doanh nghiệp phải đối mới trang thiết bị, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân viên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước.
Điều này giúp doanh nghiệp tăng được doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty. Thứ ba, xuất khẩu khuyến khích phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, marketing cũng như sự phân phối và mở rộng kinh doanh. Các hình thức xuất khẩu hàng hóa 2. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài.
Xuất khẩu trực tiếp yêu cầu phải có nguồn vốn đủ lớn và đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực và trình độ để có thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Về nguyên tắc, xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh nhưng nó lại có những ưu điểm nổi bật sau: - Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. 10 - Có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài, từ đó nắm bắt ngay được nhu cầu cũng như tình hình của khách hàng nên có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết. Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu ủy thác) Xuất khẩu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài thông qua các trung gian xuất khẩu như người đại lý hoặc người môi giới.
Đó có thể là các cơ quan, văn phòng đại diện, các công ty uỷ thác xuất nhập khẩu. Theo đó, bên thứ ba này sẽ tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, thực hiện các thủ tục cần thiết với người mua để xuất khẩu hàng cho doanh nghiệp ủy thác, qua đó nhận được một khoản hoa hồng là phí ủy thác. Trên thực tế, hình thức này được các công ty vừa và nhỏ ưu tiên sử dụng. Vì nó giúp tiết kiệm thời gian, chi phí liên quan đến vấn đề kỹ thuật và pháp lý về xuất khẩu, đồng thời tận dụng được kiến thức, kinh nghiệm bên trung gian, dễ dàng tiếp cận được thị trường mục tiêu thông qua người trung gian này, từ đó doanh nghiệp có thể dành sự tập trung vào sản xuất.
Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu hay còn gọi là mua bán đối lưu, mậu dịch đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa trao đổi có giá trị tương đương. Ở hình thức này, xuất khẩu không nhằm mục đích thu khoản ngoại tệ mà để thu lại hàng hóa khác có giá trị tương đương. Đặc điểm của phương thức này là không sử dụng tiền tệ làm trung gian nên không bị ảnh hưởng bởi vấn đề tỷ giá, giảm được chi phí giao dịch và thanh toán với ngân hàng, có thể thực hiện khi một bên thiếu ngoại tệ. Tuy nhiên, nó cũng rất phức tạp, tốn thời gian, chịu ảnh hưởng của luật lệ các nước, khó khăn trong việc định giá thị trường cho hàng hóa, dễ xảy ra tình trạng mâu thuẫn.
Gia công quốc tế Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. 11 Đây là phương thức khá phổ biến hiện nay. Đối với bên đặt gia công thì phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công.