CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE SAN XUAT, CHE BIEN VÀ XUẤT KHẨU TÔM CUA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về sản xuât chê biên và xuât khâu tôm 1. Các khái niệm chung về sản xuât, chê biên và xuat khâu tôm (1) Khái niệm chung về sản xuat tôm Sản xuât hay còn gọi là sản xuât của cải vật chât, là quá trình tạo ra sản phâm, trước hêt là phục vụ nhu câu sử dụng của con người, sau là dap ứng thị hiéu của khách hàng, phục vụ quá trình trao đôi và mua bán hàng hoá. Trước khi bắt tay vào quá trình sản xuất, mỗi cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp cần xác định ba vấn đề chính: - Sản xuât cái gi? - San xuât cho ai? - Sản xuât như thé nào? Với mỗi thời kỳ lịch sử, sản xuất lại mang thêm một số đặc điểm riêng.
Liên hợp quốc đã từng đưa ra định nghĩa về sản xuất: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền SỞ hữu tích san, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thé kinh tế khác) dé chuyển những chi phí là vật chat và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”. Như vậy, môi cách tiêp cận đên khái niệm sản xuât đêu chú trọng vào một mặt của sản xuât, nhưng tông quát lại thì sản xuât là một ngành tạo ra của cải vật chât, phục vụ nhu câu tiêu dùng và trao đôi mua bán. Sản xuất tôm hay nuôi tôm, là một ngành thuộc lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam, ngành này xuất hiện nhằm nuôi va phát triển các loại tôm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của con người.
Xã hội càng phát triển, nhu cầu của con người về nâng cao chất lượng cuộc sông ngày càng cao, vì vậy mà ngành Tôm — loại thuỷ sản mang giá trị dinh dưỡng cao — ngày càng được chú trọng phát triển. Ở Việt Nam, khu vực Đông băng Sông Cửu Long chiêm đên 95% sản lượng tôm sản xuât của cả nước. (2) Khái niệm chung về chế biến tôm 14 Chế biến hay chế biến thực phẩm là quá trình tiếp theo của sản xuất. Tại đây, thực phẩm đã qua sơ chế thô hoặc thực phẩm tươi sống được xử lý theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công dé tạo thành nguyên liệu thực pham cho ngành khác hoặc sản phẩm thực phẩm tinh dé tiêu dùng và xuất khâu.
Các thực phẩm được đưa qua quá trình chế biến đều phức tạp hoá hơn về chất lượng hoặc chất lượng được đưa về dạng “tinh”, nhiều đinh dưỡng hon và sử dụng lượng lao động lớn hơn. Tôm của quá trình sản xuất được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình chế biến. Tôm sau khi thu hoạch của các vụ được các doanh nghiệp thu mua tại ao/khu vực nuôi tôm, từ đây, tôm được vận chuyên thông qua các kho lạnh hiện đại đến các nhà máy chế biến. Quy trình chế biến tôm gồm nhiều khâu khác nhau, song chất lượng tôm đầu ra luôn được đặt lên hàng đầu.
Sản phẩm tôm sau quá trình chế biến sẽ được hút chân không, bảo quan tại kho lạnh có nhiệt độ luôn dưới -18 độ, và thời hạn sử dụng thường là 3 — 6 tháng kể từ lúc này. (3) Khái niệm chung về xuất khẩu tôm Xuất khẩu là việc trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ ra ngoài phạm vi lãnh thé, cụ thé ở bài nghiên cứu này là lãnh thé Việt Nam. Việc xuất khẩu xảy ra dựa trên cơ sở sử dụng đồng tiền chung của các bên trao đổi làm phương thức thanh toán. Tôm tươi thường phục vụ tiêu dùng trong nước, trong khi đó, tôm xuất khâu thường sử dụng tôm đã qua chế biến.
Do đặc tính vận chuyền dài, thời gian lâu nên tôm tươi khó đảm bảo chất lượng hơn. Ở Việt Nam hiện nay, có hơn 160 doanh nghiệp tham gia vào chế biến và xuất khâu tôm. Ngành Tôm Việt Nam đóng góp 40 — 50 % vào giá trị kim ngạch xuất khâu của ngành Thuỷ sản. Trong năm 2019, xuất khẩu tôm đạt 3.
Hiện nay, xuất khâu tôm là một lĩnh vực cần thiết và vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của Việt Nam. Đây sẽ là con đường để các mặt hàng tôm của Việt Nam xuất hiện trên thị trường quốc tế. Đó là động lực thúc đây ngành sản xuất và chế biến tôm của Việt Nam, là cơ sở để Việt Nam hội nhập kinh té quéc tẾ. Vai trò và đặc điểm, nội dung của sản xuất, chế biến và xuất khẩu tôm 1.
Vai trò của sản xuất, chế bién và xuất khẩu tôm đối với nén kinh tế quốc dân. 15 Một chuỗi cung ứng mặt hàng tôm bao gồm từ khâu sản xuất, chế biến, đến tiêu dùng và xuất khẩu. Tat cả các khâu trong quá trình tạo ra tôm thành phẩm đều có vai trò quan trọng, trước hết là với ngành Tôm, sau là ngành Thuỷ sản, sâu rộng hơn là có tác động to lớn đên nên kinh tê quôc dân. Thứ nhất, ngành Tôm đã góp phần vào nhiều khía cạnh trong công cuộc thực hiện các chủ trương, đường lối, các nhà hoạch định chính sách có thé dé ra các chiến lược kinh tế phù hợp xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới bao gồm đổi mới cơ chế quản lí kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, tạo lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, ngành Tôm phát triển cũng sẽ giúp nâng cao giá trị của ngành Nông, lâm, thuỷ sản - góp phần vào quá trình chuyền dịch cơ cấu kinh tế; Việc xuất khẩu tom sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, các nước khu vực Châu Âu, từ đó giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào các quan hệ kinh tế quôc tê. Thứ hai, ngành Tôm ngày càng phát triển, từ một ngành sản xuất thứ yếu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Điều này tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho bà con ngư dân vùng biển, góp phan nâng cao giá trị và chất lượng cuộc sống của họ. Từ đó, ngành Tôm đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, tạo lập công bằng xã hội, nhất là đối với các vùng nông thôn nghèo, vùng sâu, vùng xa.
Thứ ba, việc chuyên sâu từng khâu của chuỗi cung ứng ngành hàng tôm, bao gồm sản xuất, chế biến, xuất khâu giúp ngành Tôm phát huy được sức mạnh, tiềm năng thiên nhiên, biến “biển bạc” thực sự trở thành của cải vật chất. Sản lượng tôm thành phâm ngày càng tăng lên về cả chất lượng và số lượng đã đưa nước ta trở thành một trong mười quôc gia xuât khâu tôm lớn nhât thê giới. Đặc điểm của sản xuát, chê biên và xuất khâu tôm 16 Hình 2: Chuỗi cung ứng ngành tôm Việt Nam Thức ăn cho tôm 1 Tom wk =| Hoạt động nuôi trồng =| Chếbiến đónggói | => Xuất khẩu 1 J Thuốc cho tôm Tiêu thụ > (1) Đặc diém của sản xuât tôm. Sản xuất tôm là khâu đầu tiên trong chuỗi cung ứng tôm thành phâm.
Quá trình sản xuất bao gồm từ khi mua con giống, tạo lập môi trường nuôi tôm, các hoạt động nuôi tôm dựa trên nguôn thức ăn và các thuôc phòng bệnh cho tôm. Tôm của Việt Nam hiện nay được xuất phát từ hai nguồn chính: tôm nuôi tại các ao/hồ của hộ nông dân, trang trại, các mô hình ao nuôi hợp tác xã; tôm khai thác từ vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Sản lượng tôm Việt Nam tăng trung bình 6%/nam. Tuy nhiên, hiện nay các mô hình san xuất tôm của Việt Nam còn nhỏ lẻ, manh mún, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc vận chuyền và áp dụng hệ thống máy móc cơ sở vật chât.
Ngành sản xuât tôm mang đặc trưng của ngành sản xuât nông nghiệp là có tính mùa vụ cao, các hoạt động sản xuât phân lớn thực hiện ngoài trời trên khoảng không gian rộng nên phụ thuộc nhiêu vào thời tiệt, khí hậu. Đặc điêm này đòi hỏi các doanh nghiệp/cơ sở sản xuât cân linh động cập nhật và ứng biên. Tôm được sản xuất tại các trang trại, hoặc các ao/hô khác thuộc quyên sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân đêu được kiêm tra chât lượng hàng năm bởi các cơ quan có thâm quyên của cả Việt Nam và Quốc tế. Sản xuất tôm và các hoạt động liên quan đem lại sinh kế và an ninh lương thực cho hơn I triệu người sản xuất nhỏ - lực lượng đóng góp hon 80% vào sản xuất tôm tại Việt Nam.
(2) Đặc điểm của chế biến tôm. Chế biến tôm là khâu tiếp theo trong chuỗi cung ứng mặt hàng tôm thương phâm. Tại đây, tôm đâu ra của quá trình sản xuât được sử dụng làm nguôn nguyên 17 liệu đầu vào của chế biến. Hiện nay, tôm có thể chế biến thành rất nhiều mặt hàng dạng hộp, ăn liền hoặc đồ khô, .Các mặt hàng này giúp nâng cao giá trị của ngành Tôm Việt Nam, đồng thời giúp mặt hàng tôm thuận lợi hơn trong các khâu vận chuyền xuất khẩu sang các thị trường lớn, khoảng cách xa mà không lo tốn hại về mặt chất lượng.
Các khâu trong quá trình chế biến tôm sử dụng chủ yếu là lao động nữ (chiếm khoảng 80%). Từ đây, ngành chế biến tôm đã giúp giải quyết vấn đề việc làm cho hơn 2 triệu lao động, giúp họ duy trì sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, của gia đình, từ đó góp phần xây dựng tiễn bộ xã hội. Đề ngành chế biến tôm phát triển ôn định, duy tri uy tín và giá trị thương hiệu tôm Việt Nam trên các thị trường quốc tế, ngành chế biến tôm cần duy trì các đặc điểm: - Đảm bảo các điều luật của Luật Lao động về giờ làm việc, chế độ và môi trường làm việc của công nhân. - Thực hiện theo Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT về chương trình giám sát nội bộ và ngăn ngừa dư lượng kháng sinh trong sản phẩm.
- Chủ động kiểm tra dư lượng kháng sinh khi nhận nguyên liệu đầu vào và đảm bảo chất lượng đầu ra. (3) Đặc điểm của xuất khẩu tôm Hàng năm, ngành tôm đóng góp đến hơn 40% tổng giá trị xuất khâu thủy sản của Việt Nam, tương đương 3,5 - 4 tỷ USD.