CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE NGANH THỦY SAN CUA VIỆT NAM 1.1: Khái niệm va đặc điểm của ngành thủy sản: 1.1: Khái niệm về ngành thủy sản Việt Nam: Là một ngành nam trong hệ thống phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, bao gồm các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến, mua bán, xuất nhập khẩu và các hoạt động bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản.2: Đặc diém ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam: Việt Nam là nước có lợi thế về vị trí địa lí khi đặc biệt có tới 3200 km đường bờ biển với gần 1 triệu km? thềm lục địa gồm vũng , vịnh ven bờ,. Nam ở khu vực cận xích đạo nên nhiệt độ vùng nước của Việt Nam luôn én định, phù hợp cho sự sinh trưởng của nhiều loại thủy sản nước ngọt, nước lợ. Theo thống kê, nước ta có trữ lượng cá lớn và phong phú: Hàng chục vạn ha diện tích mặt nước trên dat liền (gồm 39 vạn ha các hồ lớn; 54.000 ha vùng nước ngập; 5,7 vạn ha ao và 44 000 km sông và kênh rạch ) là nơi phù hợp để nuôi tôm, cá và các thuỷ sản khác. Do đó, ngành nuôi thuỷ sản của nước ta, kể cả thuỷ sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt có thé trở thành ngành sản xuất chính.
Theo điều tra sơ bộ của ngành thuỷ sản, riêng cá nước ngọt có 544 loài , cá nước lợ , nước mặn cũng có 186 loài. Trong đó nhiều loại đặc sản có giá trỊ xuất khẩu cao, được ưa chuộng trên thị trường quốc tế. Phương thức nuôi trồng cũng rất đa dạng góp phan tạo cho sản phẩm thêm phong phú. Tổng trữ lượng cá trong vùng biển Việt Nam khoảng 3 triệu tấn, trong đó gần 1,6 triệu tấn cá đáy và 1,4 triệu tan cá nôi.
Với trữ lượng cá trên, có thê đánh bắt từ 1,3 đến 1,4 triệu tấn / năm. Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản là ngành phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên nên gặp phải rất nhiều khó khăn. Do đặc điểm nuôi trồng tại các vùng nước kín, khiến cho dư lượng chất kháng sinh trong thủy sản dé vượt mức cho phép, ngoài ra bị ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới khiến nguồn nước nuôi trồng dễ bị nhiễm khuẩn. Chat lượng con giống đóng vai trò quan trọng, là khâu đầu tiên trong chuỗi sản xuất.
Dù chất lượng con giống nước ta cao (được nuôi từ các Trung tâm nghiên cứu trong nước hoặc nhập trực tiếp từ nước ngoài), nhưng trong quá trình nuôi trồng cũng bị tác động phần lớn từ các yếu tô trên. Nhìn chung, vượt qua những khó khăn trên, ngành thủy sản nước ta đã biết tận dụng những lợi thế hiện có để phát triển. Từ Bắc tới Nam, hoạt động nuôi trồng- đánh bắt thủy sản trải đài và được chia thành 5 vùng lớnvới đặc điểm từng vùng như sau: Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: Có lợi thế vùng biển dài và các vùng nước lợ xen kẽ, tạo điều kiện phát triển các loại thủy sản như: tôm các loại, các loại nghêu, sò, ốc, bảo ngư, cá ngừ,. Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước mặn lợ, với các loài thủy- hải sản chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại.
Vùng Đông Nam Bộ: Gồm4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa — Vũng Tàu và TP.HCM, với các loại sản phẩm chính là các loại cá nước ngọt và nước lợ như của Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải. Vùng ven biên Đồng bằng sông Cửu Long: gồm các tỉnh nằm ven biển của Đồng Bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, Bến Tre, Tra Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Các loại thủy sản ở đây rất đa dạng, hoạt động nuôi trồng rất phát triển và có truyền thống lâu đời. Các tỉnh nội vùng: Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp.
An Giang, là các vùng không giáp biển nhưng hệ thống sông ngòi dày đặc, mở ra cơ hội cho các loài thủy sản nước ngọt như: cá tra — basa, cá rô phi, cá chép. Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, là nuôi trồng và xuất khâu thủy sản chính nhờ điều kiện lí tưởng về hệ thống kênh rạch. Cà Mau (chủ yếu nhờ kim ngạch xuất khâu lớn của các công ty Minh Phú, Quốc Việt), TP.HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng. theo thống kê 2011 là các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước, trong danh sách 37 tỉnh cùng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.2: Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế: 1.1: Nguồn cung thực phẩm quan trọng trong chế độ dinh dưỡng can thiết: Thống kê cho thấy sản lượng đánh bắt ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ lần lượt phục vụ 50% và 40% nhu cầu dinh dưỡng của người dân Việt Nam.
Thủy sản (đặc biệt là các loại cá, tôm, sò,.) được biết đến với hàm lượng các chất protein, omega 3, các vitamin A,D,K,E nhiều hơn so với cùng lượng thực phẩm trong các loại thịt. Hơn nữa hiện nay, các nhà dinh dưỡng học khuyến nghị nên sử dụng các loại thủy hải sản thay thế các loại thịt do lo ngại về ảnh hưởng trans fat, chất béo bão hòa, hay dư lượng hóa chất trong chuỗi thức ăn từ động vật. Nhờ vậy, trong thời gian tới, thủy sản sẽ càng trở nên có giá trị trong nhóm thực phâm được tiêu thụ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới.2: Hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho người dân Ngành thủy sản đã tính đến nay đã tạo công việc làm ăn cho rất nhiều hộ dân ven biên, giúp thay đối thói quen canh tác sản xuất trước kia, đem lại nguồn thu ồn định cho người dân. Trong vòng 20 năm trở lại đây, ngành thủy sản đã chuyền đổi từ phương thức thủ công, dùng tàu thuyền máy móc thiết bi thô sơ, canh tác theo tính mùa vụ, chuyền han sang thâm canh theo hướng công nghiệp, giúp nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo.3: Chuyến đổi cơ cau kinh té nước ta Trước đây, cơ cấu kinh tế nước ta chiếm tỉ trọng lớn trong các ngành nông nghiệp truyền thống, đặc biệt là trồng trọt chăn nuôi nên chưa thực sự đem lại mức kinh tế cao do chất lượng chưa đủ tốt dé cạnh tranh với các thị trường xuất khâu khác như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ,.
Một khó khăn nữa là hiện nay tình trạng ngập mặn tiến sâu và đất liền những năm gần đây đang gây là vẫn đề nam giải cho canh tác nông nghiệp ở các vùng Tây và Nam Bộ(chủ yếu là khó khăn trong thay thé cây trồng sao cho phù hợp). Biết nam bắt những khó khăn chuyển thành thuận lợi, ngành thủy sản đã thấy những tiềm năng khi biến vùng có nước lợ/ nước mặn thành vùng phục vụ cho nuôi trồng các loại thủy sản. Nhận thức được giá mặt hàng thủy sản càng ngày tăng cao, Chính phủ ra nghị quyết về chuyền đổi cơ cau kinh tế, khuyến khích thúc day mở rộng và phát triển ngành nuôi trồng và xuất khâu thủy sản. Từng là ngành nghề khai thác theo phương thức thủ công nhỏ lẻ, ngành thủy san đã đặt ra chỉ tiêu lay xuất khâu là yếu tổ chính, từ đó tăng cường đầu tư máy móc tàu thuyền, chuyên đổi công nghệ, tăng cường xúc tiễn thương mại nhằm đưa các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đến gan thị trường thế giới hơn, giúp mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách, dần dần chuyên đổi tỷ trọng cơ cau các ngành kinh tê nước ta.4: Hoạt động xuất khẩu quan trọng trong nền kinh tế: Trong vòng 10 năm trở lại đây, thủy sản luôn là ngành xuất khẩu lớn thứ 3 hoặc thứ 4 trong cơ cầu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Theo số liệu từ Tổng cuc Hải quan, tính đến 9 tháng đầu năm 2020, tong giá trị xuất khâu riêng mặt hàng thủy sản của Việt Nam đạt 6.034 triệu USD, chiếm tới 3% tổng kim ngạch xuất khẩu tất cả hàng hóa cả nước. Nhiều năm gần đây, mặc dù gặp khó khăn trong vấn đề xuất nhập khâu như vướng mắc các thủ tục pháp lí, các vụ kiện về bán phá giá của mặt hàng tôm và cá basa,. xuất khâu thủy sản vẫn có mức tăng trưởng đều qua các năm. Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong khi ngày càng có nhiều thị trường xuất khâu thủy sản mới cạnh tranh với Việt Nam, ngành thủy sản nước ta van đứng vững và mang lại nguồn thu 6n định cho ngân sách nhà nước.5: Bảo đảm an ninh quốc gia, chủ quyền toàn vẹn lãnh thé, đặc biệt ở vùng biển và hải đảo: Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam nói chung hay bảo vệ hoạt động thủy sản nói riêng, không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước mà còn là nhiệm vụ của những người hoạt động trong ngành thủy sản.
Đặc biệt, can các chính sách đầu tư vào tàu thuyền đánh bắt, hỗ trợ cho ngư dân bám biển sản xuất, đảm bảo an toàn cho ngư dân trên biển, kịp thời phản đối hành động xâm phạm của các thé lực xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, lên án các hành vi uy hiếp, tan công, phá hoại tài sản. Dé phát huy vai trò của ngư dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cần giúp ho đảm bảo cuộc sống trước, có vậy họ mới yên tâm bám biển và phối hợp với các lực lượng quốc phòng an ninh thực hiện các nhiệm vụ bảo toàn an ninh biển dao.3: Yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu thủy sản: 1.1: Yếu tố trong nước: Vì là một ngành sản xuất- nuôi trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên xuất khẩu thủy sản của nước ta có cả những tác động về khách quan và chủ quan. e Yéu tố tự nhiên: Thuận lợi lớn nhất của ngành thủy sản Việt Nam là yếu tổ địa lí với hệ thống các sông ngòi đầm nuôi dày đặc sâu trong vùng lãnh thổ quốc gia, ngư dân có kinh nghiệm khai thác thủy sản lâu đời nên dày dan nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên, bởi 10 ảnh hưởng trực tiếp từ khí hậu nóng 4m, chế độ mưa, độ mặn biến động nên có ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng các loài sinh vật trong nước, khiến thủy sản nuôi trồng dễ bị nhiễm bệnh.
Hơn nữa, tình hình mưa bão lũ lụt thường xuyên xảy ra cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngành thủy sản do ao nuôi bị ô nhiễm, vùng nước nuôi trồng bị phá hủy, liên quan trực tiếp tới đến sản lượng xuất khâu. Ngoài ra đặc điểm thủy sản còn có quy trình nuôi trồng, sản xuất, đánh bắt và tiêu thụ có tính mùa vụ nhằm linh động theo tình hình thời tiết và quy luật sinh trưởng của sinh vật.