CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu quốc tế về rào cản phi thuế quan của Hoa Kỳ đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 1. Các nghiên cứu lý luận về rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế và rào cản phi thuế quan của Hoa Kỳ Lịch sử nghiên cứu về NTBs đã được ghi nhận từ gần 50 năm qua và đặc biệt được quan tâm nhiều từ cuối thập niên 1970 của thế kỷ XX, thể hiện trong các công trình của Edward John Ray (1981); Howard P. Marvel và Edward J.
Các công trình nghiên cứu về NTBs trên thế giới có nội dung rất phong phú và đa dạng, với rất nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó khía cạnh này ảnh hưởng đến khía cạnh kia. Để thuận lợi cho việc triển khai luận án, nghiên cứu sinh sẽ phân chia thành các hướng nghiên cứu cụ thể sau: a. Nghiên cứu về sự phát triển của rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế Sự hình thành và phát triển của NTBs có liên quan chặt chẽ tới tư tưởng bảo hộ các ngành công nghiệp nhập khẩu nhạy cảm của chính phủ các nước. Sau thế chiến thứ II, chính sách bảo hộ bằng thuế quan tại các nước công nghiệp phát triển đã được cắt giảm, mặt khác các rào cản thương mại được biết đến như NTBs lại gia tăng mạnh trong một số lĩnh vực cụ thể.
Ví dụ, năm 1956 Hoa Kỳ thuyết phục Nhật Bản thông qua thỏa thuận “hạn chế xuất khẩu tự nguyện” đối với mặt hàng dệt bông xuất khẩu vào Hoa Kỳ; Vương quốc Anh cũng ký kết một thỏa thuận tương tự với Hong Kong. Theo Edward John Ray (1987) có 3 yếu tố góp phần giải thích sự thay đổi trong chính sách thương mại của các nước sau thế chiến thứ II. Thứ nhất, các nước công nghiệp phát triển có một hệ thống thuế thu nhập hiệu quả hơn so với hầu hết các quốc gia đang phát triển, cho nên họ ít phụ thuộc vào nguồn thu thuế cho các hoạt động của chính phủ trung ương. Thứ hai, chính phủ các nước công nghiệp luôn đặt ra các hàng rào bảo vệ ngành công nghiệp nhạy cảm trong nước, do đó các quốc gia này là khởi nguồn của việc áp dụng các sáng kiến về NTBs.
Thứ ba, các nước công nghiệp phát triển luôn luôn có một số lợi thế chính trị trong nước và quốc tế có thể hỗ trợ cho các nhóm lợi ích đặc biệt một cách ít công khai nhất. Đặc điểm của NTBs là rất khó lượng hóa và tác động đến phúc lợi nói chung. Vì những lý do này, 11 các nước công nghiệp không cần phải sử dụng nguồn thu từ thuế cho các mục đích phát triển kinh tế và họ thích sử dụng lợi thế chính trị của NTBs nhằm bảo hộ cho các nhóm lợi ích đặc biệt [199]. Kể từ vòng đàm phán Kenedy (1964 – 1967), GATT đã tiến hành công việc liệt kê NTBs của mọi quốc gia thành viên nhằm chuẩn bị dữ liệu cho các vòng đám phán tiếp theo.
Vòng đàm phán Kennedy đã thông qua các biện pháp cắt giảm thuế quan và biện pháp CBPG. Đồng thời cho ra đời Hiệp định về CBPG và một số qui định mở rộng. Vòng đàm phán Tokyo (1973 – 1979), GATT đã liệt kê được hơn 800 loại hàng rào theo từng nước, nhưng chưa đưa ra được biện pháp tháo dỡ [97]. Trên thực tế, sau những Vòng đàm phàn này, các quốc gia lại càng tự do thúc đẩy phát triển NTBs như một phản ứng bảo vệ lợi ích kinh tế - chính trị trong nước.
Nói cách khác, việc cắt giảm thành công thuế quan tại các nước công nghiệp hóa đã đóng một vai trò quan trọng thúc đẩy các nước tìm kiếm các biện pháp bảo hộ phức tạp và tinh vi hơn “các hàng rào phi thuế quan” để bảo hộ sản xuất trong nước. Trừ khi các quốc gia đều trung thực và bình đẳng cùng tìm giải pháp tháo gỡ, tuy nhiên các nước đều có lợi ích kinh tế và chính trị mạnh mẽ để tạo ra các hàng rào bảo hộ mới thay vì nhất trí xóa bỏ hoặc hạn chế nó. Như vậy, có thể thấy rào cản phi thuế quan là một biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ mới. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ điều này như nghiên cứu của Edward John Ray (1981), Howard P.
Marvel và Edward J. Nghiên cứu của Edward John Ray (1981) cho thấy NTBs đã được sử dụng ở Hoa Kỳ và các nước công nghiệp để thay thế cho công cụ bảo hộ thuế quan sau vòng đám phán Kennedy. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, NTBs được sử dụng một cách có hệ thống trong các ngành công nghiệp nhận được sự bảo trợ thuế quan tương đối cao để bổ sung cho thuế quan đã bị cắt giảm sau vòng đàm phán. Hơn nữa, giai đoạn cuối thập niên 1960 và 1970 NTBs không được tìm thấy trong các ngành công nghiệp có mức thuế thấp sau Vòng Kennedy; Nói chính xác hơn, NTBs được tìm thấy trong các ngành công nghiệp được hưởng lợi nhiều nhất từ sự bảo hộ thuế quan trước và sau Vòng đàm phán Kennedy [199].
Nghiên cứu của Howard P. Marvel và Edward J. Ray (1983) cho rằng NTBs không được sử dụng để thay thế cho sự mất mát chung của bảo hộ thuế quan mà để tăng cường bảo vệ cho các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng nhất bởi sự cắt giảm thuế quan sau vòng đám phán Kennedy. Do đó, nghiên cứu kết luận rằng Vòng đám phán Kennedy đã làm thay đổi hình thức của chủ nghĩa bảo hộ hơn là thay đổi mức độ tương đối của chủ nghĩa bảo hộ [220].
12 Nghiên cứu của Fred Lazar (1981) xem xét sự thúc đẩy chủ nghĩa bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ trong bối cảnh ra đời Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Lazar cho rằng sự ra đời của Hiệp định này đã thúc đẩy chủ nghĩa bảo hộ mới thông qua NTBs phức tạp và tinh vi để đối phó với GATT [207]. Các công trình này là những nghiên cứu tinh tế cả về mặt lý thuyết và thực tế về sự phát triển của rào cản phi thuế quan trong bối cảnh tự do hóa thương mại cuối thế kỷ XX. Những nghiên cứu bàn về rào cản phi thuế quan trong bối cảnh tự do hóa thương mại đầu thế kỷ 21 có thể kể đến bài viết của David Hanson (2010) trong cuốn “Limits to Free Trade: Non-Tariff Barriers in the European Union, Japan and United States” tác giả cho rằng thương mại tự do càng làm cho NTBs phát triển mạnh mẽ và tinh vi hơn là có thể xóa bỏ được nó.
Những vấn đề này sẽ được phân tích trong bối cảnh của các hiệp định thương mại WTO và thực tiễn tranh chấp thương mại tại các nước Mỹ, EU và Nhật Bản, bao gồm các chính sách quản lý thương mại, kiểm dịch động thực vật, hạn chế đầu tư, chính sách phòng vệ, tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật, hạn chế xuất nhập khẩu. Tác giả kết luận rằng “rào cản phi thuế quan" mang tính đặc hữu của hệ thống thương mại tự do và không phải dễ dàng khắc phục [193]. Bên cạnh đó, lại có những nghiên cứu quan tâm đến vai trò các chính sách bảo hộ tạm thời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như nghiên cứu của Chad P. Trong bài viết này, tác giả áp dụng một phương pháp tiếp cận mới dựa trên dữ liệu rào cản thương mại tạm thời (TTBs) ở cấp độ sản phẩm, dòng chảy thương mại và các chính sách thương mại khác để giải thích vai trò của TTBs trong cuộc đại khủng hoảng 2008.
Tác giả cho rằng trong cuộc đại khủng hoảng 2008 – 2009 không có chủ nghĩa bảo hộ trên diện rộng, nhưng thực tế các nước đã có sự điều chỉnh chính sách thương mại. Tác giả nghiên cứu trường hợp 11 nền kinh tế, trong đó có 4 nền kinh tế phát triển và 7 nền kinh tế mới nổi, gia tăng trung bình khoảng 25% TTBs đối với các sản phẩm nhập khẩu trong cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, kết quả giữa các quốc gia có sự khác biệt đáng kể. Ví dụ, các nước đang phát triển sử dụng thêm 39% TTBs đối với các sản phẩm nhập khẩu vào cuối năm 2009 so với năm 2007, trong khi các nền kinh tế phát triển bị ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái lại chỉ gia tăng 4% TTBs [184].
Nghiên cứu của Ambassador Robert E. Lighthizer (2018) cho thấy xu hướng NTBs của Hoa Kỳ đối với hàng NK trong bối cảnh hiện nay. Báo cáo này là một phần song hành với Chương trình nghị sự chính sách thương mại năm 2018 của Tổng thống và Báo cáo thường niên năm 2017 do Văn phòng Đại diện thương mại 13 Hoa Kỳ công bố vào tháng 3/2018. Báo cáo cho thấy xu hướng ngày càng gia tăng các rào cản thương mại của Hoa Kỳ để bảo vệ, ủng hộ hoặc khuyến khích các ngành công nghiệp trong nước.
Báo cáo nêu bật bản chất ngày càng quan trọng của các biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng (bao gồm kiểm tra, ghi nhãn và yêu cầu chứng nhận) và các biện pháp kiểm dịch thực vật (SPS) trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ. Các biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng và SPS một mặt cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tiếp cận thị trường nước ngoài nhiều hơn, đồng thời cho phép chính phủ theo đuổi các mục tiêu hợp pháp như bảo vệ sức khỏe con người, thực vật và động vật, môi trường và ngăn chặn các hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, các biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn và SPS không mang tính minh bạch và phân biệt đối xử có thể là rào cản quan trọng đối với thương mại của nước xuất khẩu. Các biện pháp như vậy có thể gây ra rất nhiều khó khăn và thiệt hại cho các DNNVV, thường bị hạn chế về nguồn lực để giải quyết các vấn đề này [162].
Nghiên cứu của Nancy Williams (2019) cho rằng chủ nghĩa bảo hộ đã “ăn sâu, bám rễ” trong hệ thống luật pháp và chính sách thương mại của Hoa Kỳ, bất chấp việc Hoa Kỳ là quốc gia đi đầu trong việc thúc đẩy chế độ tự do hóa thương mại. Luật chống bán phá giá và đối kháng là những ví dụ về cách chủ nghĩa bảo hộ vẫn luôn tồn tại trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ.