Chương 1 đến Chương 24 (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống hài hoà mô tả và mã hàng hoá (HS). Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp. Do đó, nông sản là một phạm vi khá rộng bao gồm các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp nếu được theo định nghĩa trên. Cụ thể là: - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,…; - Các sản phẩm phái sinh: bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt,…; - Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, da động vật thô,… b.
Quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) FAO cho rằng sản phẩm nông sản là nhiều nhóm sản phẩm khác nhau gồm: nhóm các sản phẩm nhiệt đới (chè, ca cao, cà phê, tiêu….), nhóm sản phẩm ngũ cốc 8 (mì, lúa gạo, kê, ngô, sắn,…), nhóm sản phẩm thịt và các sản phẩm từ thịt (thịt bò, thịt lợn, thịt gia cầm,…), nhóm sản phẩm dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu (các loại hạt có dầu như đậu tương, hướng dương,… và các loại dầu thực vật), nhóm sản phẩm sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, pho mát và các sản phẩm làm từ sữa), nhóm sản phẩm nông sản nguyên liệu (bông, đay, sợi, cao su thiên nhiên,…), nhóm sản phẩm rau quả (các loại rau, củ, quả). Quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) Tổ chức này đã đưa ra một danh sách các sản phẩm chi tiết được coi là sản phẩm nông sản. Có thể chia các mặt hàng này thành 2 nhóm chính sau: Nhóm 1: Động vật và các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, gồm: (1) động vật sống; (2) thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau khi giết mổ; (3) các chế phẩm từ thịt; (4) sản phẩm từ sữa; (5) các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật; (6) mỡ, dầu động vật. Nhóm 2: Thực vật và các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, gồm: (1) cây sống và các loại cây trồng khác; (2) rau, thân, củ và quả có thể ăn được; (3) hạt và quả có dầu, cây công nghiệp nguyên liệu, cây dược liệu; (4) các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và thực vật; (5) cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị; (6) ca cao và các chế phẩm từ ca cao; (7) ngũ cốc; (8) các sản phẩm xay xát; (9) các chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột; (10) cánh kiến đỏ, gôm, nhựa cây và các chất nhựa đường và các loại kẹo đường; (11) đồ uống, rượu mạnh và giấm; (12) thuốc lá và các sản phẩm tương tự; (12) mỡ, dầu thực vật.
Quan điểm của Việt Nam Ở Việt Nam, nông sản được hiểu đơn giản là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Trong đó, ngành nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp. Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ- CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thì khái niệm nông sản được quy định cụ thể như sau: “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp.” 9 Có thể thấy rằng, từ những phân tích các quan điểm trên, mỗi một tổ chức sẽ có cách hiểu khác nhau về nông sản. Quan điểm của Việt Nam hẹp hơn các quan điểm của WTO, FAO và EU.
Điểm chung từ những quan điểm trên: “Nông sản là những sản phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi họawaaaac sự phát triển của cây trồng, vật nuôi (không bao gồm sản phẩm của ngành lâm nghiệp và thuỷ sản)”. Theo đó, nông sản sẽ có một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp như sau: Một là, sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ. Vì dựa vào quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ tuỳ theo mùa vụ nên sản phẩm nông sản được sản xuất ra theo chu kỳ, mùa nào thức ấy. Hai là, sản phẩm nông sản chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng do đa phần nông sản đều rất nhạy cảm dưới các tác động ngoại cảnh. Ba là, một số sản phẩm nông sản khó bảo quản trong thời gian dài vì có đặc tính tươi sống nếu không được chế biến hoặc sử dụng một cách kịp thời. Bốn là, sản phẩm nông nghiệp có sự phong phú và đa dạng chủng loại. Bởi nông sản được sản xuất từ các nơi có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất,… khác nhau, ở các địa phương khác nhau.
Năm là, đối với mỗi quốc gia thì các sản phẩm nông nghiệp là những hàng hoá thiết yếu và tác động trực tiếp đến sức khoẻ người tiêu dùng. Tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm là chất lượng hàng nông sản. Do đó, tại các quốc gia phát triển ngày càng có những yêu cầu khắt khe về chất lượng, xuất xứ, vệ sinh ATTP, kiểm dịch,. Khái quát về xuất khẩu hàng nông sản 1.
Khái niệm về xuất khẩu hàng nông sản Dựa trên quan điểm và lợi ích để đánh giá hoạt động buôn bán chủ yếu của mỗi quốc gia với phần còn lại của thế giới, chúng ta sử dụng thuật ngữ “thương mại quốc tế”. Đây được hiểu là những hoạt động ngoại thương của quốc gia, trong đó việc xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền 10 tệ làm phương thức thanh toán. Ngoài ra, khái niệm xuất khẩu theo Luật thương mại 2005 được nêu cụ thể tại Điều 28, khoản 1 như sau: "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật." Từ khái niệm trên, xuất khẩu hàng nông sản có thể được hiểu là việc một quốc gia bán hàng nông sản cho các quốc gia khác để thu lợi nhuận, trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán. Các hình thức xuất khẩu hàng nông sản Hàng nông sản được xuất khẩu dưới nhiều hình thức khác nhau trong thực tế như: - Xuất khẩu trực tiếp cho thương nhân nước ngoài: là hoạt động bán hàng nông sản trực tiếp của các nhà máy, công ty, xí nghiệp cho khách hàng ở các thị trường nước ngoài mà đã được Nhà nước và Bộ Công thương cấp phép.
- Giao dịch tại sở giao dịch hàng nông sản: là thị trường mà ở đó khách hàng mua bán các loại hàng nông sản có khối lượng lớn, tính chất đồng loại, phẩm chất có thể thay thế được với nhau phải thông qua những người môi giới do Sở giao dịch chỉ định. - Gia công, chế biến cho thương nhân nước ngoài: là hình thức xuất khẩu khá phổ biến, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). - Xuất khẩu uỷ thác: là hình thức xuất khẩu hàng nông sản gián tiếp, là hình thức bán hàng nông sản của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian (thông qua người thứ ba). - Xuất khẩu hàng nông sản đổi hàng: là phương thức giao dịch hàng hoá trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng nông sản giao đi có giá trị tương xứng lượng hàng nhân về.
- Tạm nhập tái xuất hàng nông sản: là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng nông sản trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất. 11 - Xuất khẩu hàng nông sản tại chỗ: là hành vi bán hàng cho người nước ngoài trên lãnh địa nước mình (không vượt qua biên giới quốc gia). Do luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt động xuất khẩu hàng nông sản qua biên giới nên luận văn sẽ không xem xét đến hình thức xuất khẩu tại chỗ. Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản a.
Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP) Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế vì xuất khẩu luôn chiếm phần lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu hút được nhiều ngoại tệ về cho đất nước. Với Việt Nam, hàng nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu hàng nông sản càng lớn thì sẽ càng nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đồng nghĩa với việc GDP sẽ tăng cao, thể hiện được năng lực cạnh tranh của đất nước về xuất khẩu. Đối với tăng trưởng nông nghiệp Trong thời gian gần đây, Việt Nam, với những mặt hàng được mệnh danh là “đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều,…, đã nổi lên là một nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới.
Vì vậy, tác động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp là rất quan trọng. Thứ nhất, xuất khẩu nông sản tăng đồng nghĩa với việc khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày càng lớn, điều này sẽ góp phần tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất, từ đó họ có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu. Thứ hai, xuất khẩu hàng nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Xuất khẩu nông sản tăng hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và xóa bỏ dần cách thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ trước đây. Xuất khẩu nông sản tăng làm đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, từ đó góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng 12 hóa có giá trị cao, đảm bảo vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường thế giới.