CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1. Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế, hay trong tiếng Anh là cụm từ International Economic Integration, là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến hiện nay và được coi là kim chỉ nam để hình thành những đường lối, chính sách của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm Việt Nam.
Chính vì vậy, thuật ngữ này đã nhận được sự quan tâm rất lớn của giới chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế từ nhiều quốc gia trong nhiều năm qua, trong đó không thể không kể đến thành tựu của tác giả Béla Alexander Balassa và cuốn sách “The Theory of Economic Integration” (1961) (tạm dịch: “Lý thuyết về Hội nhập kinh tế”). Trong bài nghiên cứu “Theories of Economic Integration: A Survey of the Economic and Political Literature” (tạm dịch: “Lý thuyết về Hội nhập kinh tế: Một khảo sát về những nghiên cứu trong kinh tế và chính trị”) của tác giả Amr Sadek Hosny được đăng trên tạp chí International Journal of Economy, Management and Social Sciences (tạm dịch: Tạp chí quốc tế về Kinh tế, Quản lý và Khoa học xã hội) năm 2013 đã liệt kê một số đánh giá của các nhà phê bình trên thế giới về cuốn sách này. Họ đã dành những lời khen cho cuốn sách với những đóng góp lớn về kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế. Đến những năm gần đây, khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế vẫn được dựa trên nền tảng của cuốn sách “The theory of Economic Integration” (1961).
Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế được định nghĩa là hoạt động gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế trên thế giới lại với nhau. Đây là việc chủ động tiến hành trên đồng thời hai khía cạnh: thứ nhất là cố gắng mở cửa nền kinh tế, thúc đẩy tự do hóa thương mại để gắn kết thị trường quốc gia với thị trường khu vực và quốc tế; thứ hai là tham gia và đóng góp vào các hệ thống thương mại trong khu vực và trên thế giới. Khái niệm này cũng đã phần nào thể hiện được một mục tiêu quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế, đó là gia nhập vào các Hiệp định thương mại tự do nhằm thúc đẩy 9 hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia thành viên của hiệp định. Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu trong lịch sử phát triển của con người nói chung và của hoạt động kinh tế nói riêng.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã có bước đệm hình thành từ rất lâu đời, bắt nguồn từ thời kì cổ đại và tiếp tục kéo dài cho đến ngày nay. Trong quá khứ, các quốc gia cổ đại cũng đã có sự giao lưu với nhau về mặt kinh tế do xuất phát từ nhu cầu tất yếu của con người là trao đổi, mua bán hàng hóa xuyên quốc gia và sự phát triển của hệ thống giao thông vượt bậc qua từng thời kì. Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ngày càng trở nên sâu rộng và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Xu hướng này được tạo ra do chịu ảnh hưởng của các tác nhân chủ quan và khách quan.
Khi xét về mặt chủ quan, việc một quốc gia có thể tự cung tự cấp mọi sản phẩm, dịch vụ mình cần mà không phát sinh mối quan hệ mua bán với quốc gia khác là điều gần như bất khả thi. Các nguồn lực của mỗi quốc gia là có hạn cộng với việc chuyên môn hóa trong sản xuất ngày càng gia tăng, dẫn đến việc một quốc gia không thể có được tất cả sản phẩm mình muốn chỉ nhờ vào năng lực sản xuất nội địa, do đó cần phải tìm đến việc mua bán với các quốc gia khác. Hơn nữa, việc hội nhập kinh tế quốc tế còn dựa trên nhu cầu thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa các nền kinh tế trên thế giới. Khi xét về mặt khách quan, những xu hướng mở cửa nền kinh tế, hợp tác cùng phát triển ra đời đã khiến cho các quốc gia có sự liên kết ngày càng chặt chẽ với nhau không chỉ về mặt kinh tế mà còn về chính trị, xã hội.
Do đó trong tương lai, việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ luôn tồn tại và thúc đẩy hoạt động thương mại ngày càng rộng mở. Các hình thức Hội nhập kinh tế quốc tế a. Khu vực mậu dịch tự do Khu vực mậu dịch tự do (thuật ngữ tiếng Anh là Free Trade Area) là hình thức hội nhập kinh tế quốc tế giữa hai nước hoặc giữa một nhóm các nước mà từ đó các rào cản về thương mại được cam kết cắt giảm, xóa bỏ giữa các quốc gia thành viên của khu vực nhưng từng quốc gia này vẫn được duy trì một cách độc lập các chính sách về thương mại với nước thứ ba không phải là thành viên của khu vực. Mức thuế quan và hạn ngạch là những mục tiêu chính để cam kết cắt giảm hoặc thậm chí loại bỏ giữa các quốc gia thành viên với nhau trong khu vực.
Đây được coi là ưu đãi 10 lớn về mặt thương mại mà các quốc gia có thể dành cho nhau để từ đó hướng tới mục tiêu tự do hóa thương mại, hình thành thị trường giao lưu kinh tế không biên giới và thúc đẩy hoạt động trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực kinh tế khác có liên quan. Như vậy, việc tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do là một bước tiến lớn hơn trong việc thiết lập quan hệ về kinh tế giữa các quốc gia, từ đó các doanh nghiệp cũng được hưởng những ưu đãi lớn hơn khi xuất nhập khẩu hàng hóa. Tuy vậy, các thành viên trong khu vực này vẫn được tự chủ trong các giao dịch thương mại với các quốc gia không phải thành viên, được tự do áp dụng thuế quan theo biểu thuế quan riêng của quốc gia mình cũng như các quy định thương mại khác với các mặt hàng đến từ các quốc gia khác mà không thuộc khu vực mậu dịch tự do này. Liên minh hải quan Liên minh hải quan (thuật ngữ tiếng Anh là Customs Union) là hình thức hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn so với khu vực mậu dịch tự do.
Hình thức này được định nghĩa là gần giống như khu vực mậu dịch tự do, tức là các quốc gia thành viên trong liên minh vẫn thống nhất với nhau trong việc cắt giảm, xóa bỏ thuế quan để trở thành một thị trường thống nhất. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất của hình thức này so với Khu vực mậu dịch tự do đó là các quốc gia trong liên minh sẽ cùng nhau áp dụng chung một chính sách đối ngoại về kinh tế với các quốc gia không phải là thành viên, tức là áp dụng biểu thuế quan chung để đối xử với hàng hóa ngoài liên minh. Điểm mạnh của hình thức này là tăng tính đồng nhất và công bằng của thị trường chung trong liên minh, từ đó tránh được vấn đề một quốc gia ngoài liên minh tận dụng thuế quan ưu đãi của một quốc gia trong liên minh để xuất khẩu hàng hóa vào quốc gia này nhằm mục đích sau đó di chuyển hàng hóa sang quốc gia khác trong liên minh mà ban đầu không có thuế quan ưu đãi. Tuy nhiên, hình thức này cũng có hai hạn chế lớn.
Thứ nhất, việc thống nhất và phối hợp thực hiện chính sách đối ngoại chung về kinh tế với các nước không thuộc liên minh là không dễ dàng. Các nước phải có sự đồng thuận với nhau, nếu không thì sẽ không thực hiện được hình thức hội nhập kinh tế quốc tế này. Thứ hai, sự di chuyển của vốn và lao động giữa các quốc gia thành viên vẫn còn hạn chế. Thị trường chung Thị trường chung (thuật ngữ tiếng Anh là Common Market).
Hình thức này là sự phát triển cao hơn của liên minh hải quan. Ngoài vấn đề về thuế quan giữa các quốc gia thành viên và biểu thuế quan chung áp dụng với các quốc gia ngoài khu vực như hình thức liên minh hải quan, hình thức thị trường chung này còn mở ra vấn đề mới về sự tự do lưu thông của vốn và lao động giữa các quốc gia thành viên. Về điểm mạnh, người lao động từ một quốc gia trong thị trường chung không cần phải có thị thực hoặc giấy phép lao động khi làm việc tại các quốc gia khác cũng thuộc thị trường chung. Do đó người lao động có thể mở rộng phạm vi tìm kiếm việc làm với mức lương và môi trường làm việc hấp dẫn hơn từ các quốc gia trong thị trường chung, gia tăng cơ hội tìm kiếm được việc làm như mong muốn của người lao động.
Vốn cũng được tự do lưu thông nên các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ thu hút được nhiều vốn hơn, từ đó là cơ sở đề phát triển nền kinh tế. Về hạn chế, việc di chuyển của các dòng vốn và lao động từ quốc gia kém hấp dẫn sang quốc gia hấp dẫn hơn có thể khiến cho quốc gia kém hấp dẫn hơn thiếu hụt các nguồn lực để phát triển kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó cũng sẽ bị ảnh hưởng. Các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả cũng đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn, thậm chí là buộc phải dừng hoạt động khi các yếu tố sản xuất có sự di chuyển sang những doanh nghiệp khác tiềm năng hơn. Liên minh kinh tế và tiền tệ Liên minh kinh tế và tiền tệ (thuật ngữ tiếng anh là Economic and Monetary Union) vẫn giữ được những nét cơ bản của hình thức thị trường chung nhưng lại có thêm những điểm hội nhập ở mức độ cao hơn nữa, đó là hòa hợp giữa chính sách kinh tế và sử dụng chung một đồng tiền giữa các quốc gia trong nội khối.
Ngoài ra, hình thức này còn bao gồm sự hợp nhất các Ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên và hợp nhất các giao dịch với các thể chế quốc tế về tài chính và tiền tệ. Đây là hình thức mà các quốc gia thành viên đã gần như hợp nhất lại thành một thị trường thống nhất về kinh tế và gần như không có rào cản nào nữa. Hiện nay, đây là hình thức hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ cao nhất với sự tồn tại của của Liên minh châu Âu (EU).