Chương 1: Tổng quan về cơ hội và thách thứ khi mở rộng thị trường xuất khẩu tóc Chương 2: Cơ sở luận về cơ hội và thách thức khi mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa sang châu phi Chương 3: Thực trạng về cơ hội và thách thức khi mở rộng thị trường xuất khẩu tóc sang châu phi của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu APO Chương 4: Định hướng giải pháp đối phó với thách thức mở rộng thị trường xuất khẩu tóc sang châu phi của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu APO Kết luận Tài liệu tham khảo 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC KHI MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG CHÂU PHI 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Một số khái niệm xuất khẩu “Phi thương bất phú” - ngay từ xưa hoạt động thương mại buôn bán, trao đổi hàng hóa đã được xem trọng và đến tận bây giờ quan niệm ấy vẫn không có gì thay đổi mà ngày càng phát triển lên. Song song với sự phát triển của thương mại nội địa thì thương mại quốc tế cũng không ngừng phát triển với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ.
Hay nói cách khác, đó chính là động lực cho sự phát triển của mỗi quốc gia, chính vì lẽ đó mà hoạt động xuất khẩu – nhập khẩu là hai hoạt động cơ bản của thương mại quốc tế đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia. Vậy xuất khẩu là gì? Xuất khẩu có nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo từng trường hợp và từng quan điểm của tác giả mà khái niệm có thể sai lệch so với nhau. Sau đây là một số khái niệm thường dùng: Theo Luật thương mại 2005, điều 28 khoản 1: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Cũng theo Luật thương mại Việt Nam (2005): “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ hàng hóa hữu hình mà còn có hàng hóa vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn.” Theo Feenstra và Taylor (Giáo trình Thương mại quốc tế, 2010): “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác.” Từ những khái niệm trên, có thể kết luận rằng bản chất của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài hoặc khu vực đặc biệt trên lãnh thổ quốc gia theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu hàng hóa dựa trên cơ sở phân công lao động, cho phép các quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, tận dụng và phát huy tối đa lợi thế của mình. Vai trò của xuất khẩu • Đối với quốc gia Trước hết, xuất khẩu làm tăng thu nhập quốc dân.
Xuất khẩu là một trong những nguồn thu quan trọng của quốc gia. Khi xuất khẩu tăng, thu nhập quốc dân sẽ tăng theo. Điều này giúp cải thiện đời sống của người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, xuất khẩu đã đóng góp khoảng 19% vào GDP của Việt Nam trong năm 2022.
Đây là một con số rất lớn. Thứ hai, xuất khẩu tạo công ăn, việc làm. Xuất khẩu tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước. Khi xuất khẩu tăng, nhu cầu về lao động sẽ tăng theo.
Điều này giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp và góp phần giảm nghèo. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến tháng 9/2023, có khoảng 12,5 triệu người lao động Việt Nam đang làm việc liên quan đến xuất khẩu, chiếm khoảng 30% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế Việt Nam. Thứ ba, xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường quốc tế.
Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ trọng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 53,6% năm 2010 lên 85,2% năm 2022. Điều này cho thấy xuất khẩu đã giúp Việt Nam chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thứ tư, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Xuất khẩu giúp các quốc gia gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Điều này góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Theo thống kê của Bộ Công Thương, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 19 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA có hiệu lực và đang thực thi cam kết. Các FTA này đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường lớn trên thế giới, góp phần tăng cường hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Tóm lại, xuất khẩu đã đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong những năm gần đây, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam dự kiến sẽ đạt 370 tỷ USD, tăng 16,5% so 11 với năm trước. Nếu đạt được mục tiêu này, xuất khẩu sẽ đóng góp khoảng 19% vào GDP của Việt Nam trong năm 2023.
• Đối với doanh nghiệp Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu cơ bản của mình đó là lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên cũng như mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp, nó quyết định và chi phối các hoạt động khác như: nghiên cứu, tìm kiếm thị trường mới; thu mua và tạo nguồn hàng; tiến hành các hoạt động dự trữ, dịch vụ… các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia và tiếp cận vào thị trường thế giới. Nếu thành công đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng thị trường và khả năng sản xuất của mình. Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh: Do phải chịu sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đứng vững được, các doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân viên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nó làm tăng thêm thu nhập của họ đồng thời cũng phát huy được sự sáng tạo của người lao động. Xuất khẩu dẫn tới sự hợp tác giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp một cách thiết thực từ phía nhà sản xuất, nó khơi thông nguồn chất xám trong và ngoài nước.
Các hình thức xuất khẩu • Xuất khẩu trực tiếp Trong loại hình xuất khẩu trực tiếp, bên mua hàng và bên bán hàng sẽ trực tiếp thỏa thuận, ký kết hợp đồng ngoại thương với nhau. Hợp đồng ngoại thương giữa 2 bên này phải phù hợp với luật lệ của cả 2 nước là luật mua bán quốc tế. 12 Loại hình xuất khẩu trực tiếp này sẽ phù hợp với hầu hết các loại hình doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Doanh nghiệp có thể tự chủ động hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó, đây cũng là sự lựa chọn tốt của các doanh nghiệp muốn khẳng định mình trên trường quốc tế. • Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác xuất khẩu) Loại hình xuất khẩu gián tiếp này còn có một tên gọi khác là xuất khẩu ủy thác, hay ủy thác xuất khẩu. Với loại hình xuất khẩu này, doanh nghiệp sở hữu hàng hóa sẽ ủy thác cho một đơn vị khác đứng ra tiền hành xuất khẩu hàng. Đơn vị này sẽ đứng ra làm việc trên danh nghĩa là bên nhận ủy thác.
Để thực hiện loại hình xuất khẩu này, bên chủ hàng sẽ phải ký hợp đồng nhằm ràng buộc trách nhiệm với bên nhận ủy thác. Sau đó đơn vị nhận ủy thác này sẽ giao hàng và thanh toán đối với thương nhân nước ngoài. Cuối cùng họ sẽ nhận phí ủy thác xuất khẩu từ chủ hàng. • Gia công hàng xuất khẩu Đây là loại hình xuất khẩu mà trong đó, các công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc) từ nước ngoài.
Sử dụng tư liệu sản xuất đó để gia công, sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của bên đặt hàng. Cuối cùng hàng hóa thành phẩm sẽ được xuất khẩu sang các nước theo chỉ định của công ty đặt hàng. Loại hình này thường được các quốc gia đang phát triển, các quốc gia có nguồn lao động dồi dào áp dụng. Đây không những là điều kiện để các quốc gia đó tiếp cận với những công nghệ mới mà còn mang lại việc làm cho nguồn lao động trong nước.
• Xuất khẩu tại chỗ Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu trong đó hàng hóa do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và cung cấp cho người mua ở nước ngoài theo hợp đồng thương mại, được người mua ở nước ngoài thanh toán nhưng chỉ định giao hàng tại Việt Nam cho doanh nghiệp khác ở Việt Nam. Với hình thức này, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn. Bởi vì họ sẽ không phải chi cho các khoản như với hải quan, bảo hiểm, phí giao nhận hàng,… Theo quy định của Việt Nam, hình thức xuất khẩu tại chỗ áp dụng cho một số đối tượng như sản xuất gia công; máy móc; thiết bị thuê/mượn;… • Tái xuất 13 Tái xuất là hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hóa đã nhập khẩu trước đây nhưng chưa qua gia công chế biến ở nước tái xuất. Cơ sở của hình thức tái xuất dựa trên hai hợp đồng riêng biệt gồm hợp đồng xuất khẩu và nhập khẩu.