phần mở đầu, giới thiệu các bên chủ thể cho đến nội dung các điều kiện, điều khoản của hợp đồng và phần ký kết hợp đồng. Trong đó, DN cần tập trung phân tích kỹ các điều khoản của hợp đồng, cụ thể như Tên hàng, số lượng, giá cả, giao hàng, thanh toán, bảo hành, bảo hiểm hay các khiếu nại, điều khoản khác. • Thanh tra hiện trường: Đối với các nhà QTRR, việc thanh tra hiện trường là công việc được tiến hành thường xuyên. Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá và nhận dạng được những rủi ro mà DN có thể gặp phải.
Phân tích và đo lường • Phân tích rủi ro: Nhận dạng được rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể đến với tổ chức tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là công tác khởi đầu của công tác QTRR. Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được các nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa. Cần lưu ý rằng: đây là công việc phức tạp, bởi không phải mỗi rủi 14 ro chỉ là do nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa. • Đo lường rủi ro: Nhận dạng được rủi ro là bước khởi đầu của QTRR, nhưng rủi ro có rất nhiều loại, một tổ chức không thể cùng một lúc kiểm soát, phòng ngừa tất cả các rủi ro.
Từ đó cần phân loại rủi ro, cần biết được đối với tổ chức loại rủi ro nào xuất hiện nhiều, loại nào xuất hiện ít, loại nào gây ra hậu quả nghiêm trọng, còn loại nào ít nghiêm trọng hơn. từ đó có biện pháp QTRR thích hợp. Để làm việc này cần tiến đo lường mức độ nghiêm trọng của rủi ro đối với tổ chức. Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích, đánh giá theo hai khía cạnh: Tần suất xuất hiện rủi ro (TSXHRR) và mức độ nghiêm trọng (MĐNT) của rủi ro.
Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro. - TSXHRR là số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với tổ chức trong một thời gian nhất định. - MĐNT của rủi ro đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm… TSXHRR CAO THẤP MĐNT CAO I II THẤP III IV Hình 1. Ma trận đo lường rủi ro Nguồn: Giáo trình quản trị rủi ro trường Đại học Thương mại Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với tổ chức, người ta sử dụng cả 2 tiêu chí: mức độ nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ nghiêm trọng đóng vai trò quyết định.
Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại các rủi ro sẽ tập trung quản trị trước hết những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó thứ tự sẽ đến nhóm II, III và sau cùng là những rủi ro thuộc nhóm IV. Kiểm soát - Phòng ngừa rủi ro Công việc trọng tâm của QTRR là kiểm soát rủi ro. Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động. để 15 ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với tổ chức.
Các biện pháp cơ bản để kiểm soát rủi ro: - Các biện pháp né tránh rủi ro; + Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra: là biện pháp mà Doanh nghiệp chủ động chuẩn bị và lên kế hoạch ứng phó từ trước nhằm né tránh được rủi ro ngay từ đầu. + Loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro: là biện pháp mà doanh nghiệp hương tới những biện pháp thay thế khác nhằm ứng phó với các rủi ro đã được doanh nghiệp nhận diện ra. - Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: là biện pháp nhằm giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại, bao gồm: + Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa tổn thất. Ví dụ trong quá trình vận chuyển hàng xuất khẩu, phương tiện vận tải có thể bị chìm, lật, đầm, va chạm.
Biện pháp phòng ngừa: Mua bảo hiểm cho hàng hóa. + Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro: Ví dụ, trong quá trình đàm phán, thực hiện hợp đồng ngoại thương, do năng lực đàm phán của cán bộ còn hạn chế, thiếu những hiểu biết cần thiết về môi trường văn hóa của đối tác dẫn tới hành xử sai lệch, dẫn tới rủi ro. Biện pháp ngăn ngừa: Đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ đàm phán. + Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa mối nguy cơ và môi trường rủi ro: Ví dụ: Khi DN xuất khẩu tiếp cận thị trường tiêu thụ mới rất khó tránh khỏi sai sót.
Biện pháp ngăn ngừa : thông qua người trung gian thứ 3 để tiếp cận thị trường, tạo mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương. - Các biện pháp giảm thiểu tổn thất; Đây là các biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro mang lại, bao gồm: + Cứu vớt những tài sản còn sử dụng được: khi kho hàng bị cháy cần cố găng dập lửa cứu nhưng tài sản chưa bị thiêu hủy. + Chuyển nợ: DN XK có thể chuyển bớt nợ sang các công ty bảo hiểm 16 + Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa rủi ro: Thiết lập hệ thống thông tin dự phòng; tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo nhân viên các nghiệp vụ về chữa cháy, lũ lụt. + Dự phòng: Lập hệ thống máy móc, thiết bị dự phòng, + Phân tán rủi ro: đa dạng hóa sản phẩm để phân chia rủi ro và định hướng trong quá trình kinh doanh xuất khẩu.
- Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Chuyển giao rủi ro có thể được thực hiện bằng cách: + Chuyển giao tài sản hoặc hoạt động có rủi ro cho tổ chức khác + Chuyển giao rủi ro thông qua ký kết hợp đồng với người/ tổ chức khác, trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản. Ví dụ mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu. - Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, đa dạng hóa rủi ro thường được doanh nghiệp xuất khẩu định hướng tới việc đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng. nhằm ngăn ngừa rủi ro.
Tài trợ rủi ro Khi tổn thất xảy ra, trước hết cần theo dõi, giám định tổn thất, xác định được chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Tiếp đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp, các biện pháp này được chia làm 2 nhóm: + Tự khắc phục rủi ro (lưu giữ rủi ro): người/ tổ chức bị rủi ro sẽ tự mình thanh toán các tổn thất. Nguồn bù đắp là nguồn tự có của chính tổ chức đó, cộng với nguồn mà tổ chức đó đi vay và có trách nhiệm hoàn trả. Biện pháp: lập quỹ tự bảo hiểm và lập kế hoạch tài trợ tổn thất một cách khoa học.
+ Chuyển giao rủi ro: Đối với những tài sản/ đối tượng đã mua bảo hiểm thì khi tổn thất xảy ra đầu tiên phải làm khiếu nại đòi bồi thường. Ngoài những biện pháp trên, DN còn có thể nhận được sự tài trợ từ Chính phủ, cấp trên hay các tổ chức có liên đới. Các loại rủi ro xuất khẩu thường gặp a. Những rủi ro trong lựa chọn đối tác, đàm phán và ký kết hợp đồng 17 - Rủi ro mạo danh Có rất nhiều kiểu mạo danh khác nhau như: Mạo danh đại điện những công ty lớn, mạo danh đại diện khu vực của những tập đoàn nổi tiếng, mạo danh trung gian thương mại, mạo danh bên thứ ba để cam kết mua lại sản phẩm hoặc bán lại sản phẩm.
Tổn thất do những rủi ro này mang đến thường không gặp ngay trong quá trình đàm phán mà kéo theo la những hệ lụy trong các bước tác nghiệp sau đó, và thường dẫn đến hậu quả khôn lường cho doanh nghiệp bị hại. - Rủi ro do các hành vi lừa đảo khác của đối tác Cùng với những rủi ro đã nêu trên, trong quá trình lựa chọn đối tác, đàm phán và ký kết hợp đồng còn có thể xảy ra các rủi ro liên quan đến hành vi lừa đảo như: đánh tráo hợp đồng; đưa ra các điều kiện giao dịch rất thuận lợi để lừa đảo (đánh vào lòng tham của đốitác); lừa mua để bán hoặc lừa bán để mua (lừa ký hợp đồng với giá rất cao lô hàng mà họ đang bị ế, sau đó tìm cách bán chính lô hàng đó cho đối tác của mình hoặc lừa trong các quan hệ buôn bán đối lưu…); lợi dụng đặc điểm của một số phương pháp thanh toán chuyển tiền online nhằm chiếm đoạt hàng hóa khi đã nhận được hàng. Những rủi ro trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu - Rủi ro do khan hiếm nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu Do những yếu tố bất lợi về thời tiết, dịch bệnh, nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất có thể dẫn đến khan hiếm nguồn hàng xuất khẩu. Khi đó, người xuất khẩu luôn tìm mọi cách để giảm lượng hàng xuất khẩu hoặc yêu cầu thay thế bằng hàng hóa khác hoặc kéo dài thời gian chuẩn bị hàng hóa, thậm chí là tự ý không thực hiện việc giao hàng.
Ngay cả trong một số trường hợp, nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu thực tế không thiếu, nhưng do người bán đã không tổ chức tốt công tác thu gom hàng hóa nên đã không có hàng cho xuất khẩu, tạo ra sự khan hiếm “giả tạo” ở một thời điểm nhất định. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến khan hiếm nguồn hàng xuất khẩu có thể là khách quan (ảnh hưởng của môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt nguồn nguyên liệu…) và cũng có thể là chủ quan (hạn chế xuất khẩu của chính phủ, không tổ chức tốt công tác thu mua,…). 18 - Rủi ro do sự biến động giá cả hàng hóa Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động của giá cả hàng hoá diễn ra một cách thường xuyên dưới những tác động của hàng loạt các yếu tố từ môi trường kinh tế vĩ mô và những điều chỉnh trong chính sách vi mô của mỗi quốc gia.