MỞ ĐẦU * Lý do hình thành đề tài Đậu nành là thực phẩm quen thuộc và sử dụng nhiều hiện nay dưới dạng thực phẩm ăn kiêng hay thực phẩm giàu đạm. Thêm vào đó nguồn protein đậu nành là nguồn peptide có hoạt tính sinh học cao nhưng ở dạng gốc không thé hiện được hoạt tinh sinh học. Trong quá trình tiêu hoá ở dạ dày, lên men hay thuỷ phân băng enzyme, chúng được phân giải thành các peptide có hoạt tính sinh học và ảnh hưởng nhiều đến chức năng sinh lý của cơ thé. Trong 20 acid amin phố biến, có các acid amin được coi là thiết yếu ở người nhưng cơ thê không thê tổng hợp được.
Các acid amin phải được thông qua chế độ ăn uống của một cá nhân. Sự thiếu hụt một hoặc nhiều acid amin có thé gây ra một sự mất cân bằng nitơ. Tình trạng như vậy có thé dẫn đến sự phá vỡ các hoạt động enzyme và mat khối lượng co. Acid amin chuỗi phân nhánh (BCAA), trong đó bao gồm valine, leucine, isoleucine và đặc biệt hữu ích trong trường hợp này.
Với acid amin mạch nhánh chuỗi tự do (BCAA) sau khi thủy phân từ protein đậu nành được sử dụng dé điều trị các bệnh về rối loạn gan bao gdm các bệnh về xơ gan, rối loạn túi mật, rối loạn thận và bệnh nhân rối loạn chuyển hóa. Bồ sung BCAA cũng đã được chứng minh thành công cho việc điều trị bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Việc nghiên cứu một sản phẩm thực phẩm cung cấp qua đường ống thông mũi da dày bố sung các peptide mạch ngắn, các acid amin va đặc biệt là các acid amin mạch nhánh để đáp ứng các yêu cầu về dinh dưỡng, vệ sinh, khả năng hấp thu tốt và giá thành thấp đang là một vấn đề thiết yếu. s* Mục đích nghiên cứu Mục đích chính của đề tài là xác định điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân đậu nành bang các enzyme khác nhau như protamex, alcalase sao cho hiệu suất thu hồi protein là cao nhất.
Từ đó chọn quy trình phù hợp để trích ly protein từ đậu nành. Cuối cùng, sản xuất thử nghiệm sản phẩm bột đậu nành thủy phân, kiểm tra hiệu suất thuỷ phân của protein, kích thước phân tử peptide sau khi thuỷ phân, chi tiêu về hoá lý và vi sinh, nhằm đảm bảo dinh dưỡng và an toàn cho người sử dụng. s* Pham vi nghiên cứu Do thời gian có phan hạn chế, dé tài tập trung nghiên cứu trên nguyên liệu là đậu nành và enzyme protamex, alcalase. s* Mục tiêu nghiên cứu Những mục tiêu đặt ra trong quá trình nghiên cứu như sau: - Quá trình khảo sát các yếu tố thủy phân như: tỷ lệ đậu : nước, tỷ lệ enzyme/cơ chất [E/S].
pH, nhiệt độ, thời gian thủy phân cho hiệu suất thu hồi protein hòa tan là cao nhất. Từ đó, tối ưu hóa các thông số của quá trình thủy phân. - _ Xác định mức độ thủy phân (DH), xác định kích thước phân tử peptid sau khi thủy phân. - xác định thành phần các acid amin, đặc biệt là hàm lượng các acid amin mạch nhánh, chỉ tiêu vi sinh, hoá lý của bột đậu nành.
s* Nội dung nghiên cứu Những nội dung nghiên cứu chính của đề tài như sau: - Tổng quan tài liệu về nguyên liệu đậu nành, enzyme protamex, alcalase và sản phẩm bột đậu nành. Xác định thành phan của nguyên liệu đậu nành. - Khảo sát các yếu tổ ảnh hưởng đến quá trình thủy phân như: tỷ lệ đậu/nước (w/w), ty lệ enzyme/co chất % (w/w), pH, nhiệt độ, thời gian thủy phân. Từ đó chọn ra điều kiện tối ưu để thực hiện quá trình thủy phân.
- Xác định khối lượng phân tử và thành phan các acid amin của sản phẩm bột protein sau khi sây phun. - Khảo sát các acid amin và peptide có hoạt tính sinh học trong chế phẩm thủy phân từ đậu nành. CHUONG I: TONG QUAN 1. Nhu cầu về năng lượng va dinh dưỡng cho bệnh nhân 1.
Nhu cầu năng lượng Tổng năng lượng cung cấp cần phải được kiểm soát. Khi cung cấp cho bệnh nhân cần được xác định tương quan với năng lượng tiêu hao nhăm tránh cung cấp thiếu năng lượng. Với người khỏe mạnh, năng lượng tiêu hao chủ yếu bị tác động bởi các yếu tố như tuôi, giới tính, trọng lượng cơ thế và hoạt động thể lực. Ở người bệnh, tình trạng không lao động đưa đến nhu cầu năng lượng giảm.
Theo phương trình Harris — Benedict cho phép dự đoán năng lượng tiêu hao co ban của người khỏe mạnh là 1 Keal/kg/h (hay 4,18 kJ/kg/h) đối với nam khi nghỉ ngơi, không bi stress, được điều chỉnh theo giới tính (trừ 5 + 10% đối với nữ, theo mức độ stress) [1]. Cung cấp hỗ trợ dinh dưỡng nhăm duy tri hay cải thiện chức năng và tránh sụt cân, hồi phục thể trọng và thành phân cơ thé bình thường ở người bị thiếu dinh dưỡng. Thiếu hụt năng lượng cơ thé nặng là van đề đáng quan tâm vi mat 30 ~ 40% là đe dọa đến tính mạng [2]. Do đó thức ăn nuôi qua ống thông nhăm cung cấp hỗ trợ duy trì hay cải thiện chức năng của các bộ phận cơ thể và tránh sụt cân, tạo nên sự phục hồi các chức năng và thé trọng của cơ thể bình thường ở những người bị thiếu dinh dưỡng.
Nhu cầu dinh dưỡng s* Carbohydrate - Carbohydrate luôn cung cấp khoảng 40 + 70% tổng năng lượng cung cấp hăng ngày (khuyến nghị hiện nay khoảng 50 + 55%). Phần lớn lượng carbohydrate tiêu hóa là tinh bột và một phan nhỏ (khuyến nghị là < 20%) khẩu phan là disaccharide (chủ yếu là sucrose va lactose) và monosaccharide. Chế độ ăn có đủ carbohydrate sẽ giúp cơ thể tập trung protein cho chức năng tạo hình. Vai trò dinh dưỡng của carbohydrate: - Nguồn năng lượng của cơ thể: Mỗi 1g carbohydrate cung cấp 4 Kcal năng lượng cho những hoạt động của cơ thể [1].
4 - Điều hòa hoạt động cơ thé: carbohydrate tham gia chuyên hóa lipid, giúp cho cơ thể chuyển hóa cetonic — có tính acid, do đó giữ được hằng số điện môi [I ]. - Điều hòa quá trình chuyển hóa glucose: glucose can thiết cho tế bao than kinh, tế bào than kinh chỉ có thé hoạt động bình thường nếu được cung cấp glucose và oxy trong máu [1]. - Ngoài ra, carbohydrate còn là nguồn cung cấp chất xơ làm khối thức ăn lớn hơn, do đó tạo cảm giác no, tránh việc tiêu thụ quá nhiều năng lượng. Chất xơ còn giúp hấp thụ những chất có hại trong đường tiêu hóa như cholesterol, chất gây oxy hóa, chất gây ung thư [1].
s* Protein Nhu cầu protein tối thiểu trong chế độ ăn ước tính khoảng 0.45g/kg thể trọng/ngày. Nhu cầu một người trẻ trưởng thành khoảng 0,71 + 0,8¢ protein/kg thé trọng/ngày. Phụ nữ mang thai nên được cung cấp thêm 6g protein hàng ngày. Khi bệnh và trong giai đoạn hỏi phục nhu cau protein nên khoảng 1 + 2g protein/kg thé trọng/ngày và 1 + 1,5g protein/kg thé trọng/ngày đối với người già.
Vai tro của protein: - Cung cấp năng lượng và xây dựng cấu trúc tế bào. - Có nhiều chức năng sinh học quan trọng như: điều hòa, xúc tác, bảo vệ, truyền xung thần kinh, vận động và vận chuyên chất dinh dưỡng. - Nếu thiếu protein trong chế độ ăn hàng ngày sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như suy dinh dưỡng, chậm lớn, giảm khả năng miễn dich,. ảnh hưởng xấu đến chức năng của các cơ quan như: gan, hệ thần kinh, tuyến nội tiết.
- Ngoài ra, nếu thiếu protein còn làm thay đối đến thành phan hóa học và cầu tạo hình thái của xương. Do đó, lượng protein cao và chất lượng tốt là nhu cầu không thê thiêu của con người. Mức cung cấp an toàn protein. Nam Nữ Nhóm tuoi (g protein/kg thé trong/ngay) | (g protein/kg thé trọng/ngày) 3 — 6 thang 1,85 1,85 6 — 9 thang 1,65 1,65 9 — 12 tháng 15 15 I— 2 năm 12 12 2 — 3 năm 1,15 1,15 3 — 5 năm 1,1 1,1 5—7 nam 1,0 1,0 7—10 nam 1,0 1,0 10 — 12 năm 1,0 10 12-14 năm 1,0 0,95 14-16 năm 0,95 09 16— 18 năm 0.9 08 Người trưởng thành 0,75 0,75 (Nguồn: WHO/FAO/UNU) s*Lipid Đối với người Việt Nam trưởng thành, năng lượng do lipid cung cấp hàng ngày chiếm từ 18 + 25% nhu cầu năng lượng của cơ thé.
Triglyceride là thành phan chất béo chính trong khẩu phan ăn (đến 90%), các thành phần còn lại gồm photpholipid, sterol và các vitamin tan trong chất béo [1 ]. Vai trò của lipid: Cung cấp năng lượng: lipid là nguồn năng lượng cao, 1g lipid cung cấp 9kcal năng lượng. Chất béo trong mô mỡ là nguồn năng lượng dự trữ cho cơ thể, sẽ được sử dụng khi nguồn cung cấp từ bên trong tạm thời bị ngừng hay giảm sút [1 ]. Tạo hình: chất béo có cấu trúc quan trọng của tế bào và của mô trong cơ thể.
Mô mỡ ở dưới da và quanh các cơ qua nội tạng là một lớp đệm bảo vệ. nâng đỡ các Cơ quan của cơ thé [1]. Điều hòa hoạt động của cơ thé: chất béo trong thức ăn can thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của những vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Acid béo là thành phần của acid mật và muối mật rất cần cho tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở ruột, tham gia vào thành phần của một số loại hormone, steroid, cần cho hoạt động bình thường của hệ nội tiết và sinh dục.
Ngoài ra, các acid béo không no nhiều nỗi đôi như omega-3 và omega-6, ngày càng được biết đến với các chức năng chống oxy hóa bảo vệ cơ thể, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, huyết áp [2]. Tống quan về các acid amin mạch nhánh (BCAA) Có ba loại acid amin mạch nhánh: leucine, isoleucine, valine và chúng đóng một vai trò quan trọng trong dinh dưỡng và khả năng phục hồi của một số đối tượng bệnh nhân nhờ vào quá trình chuyên hóa đặc biệt của chúng trong cơ thé. Lợi ich đặc biệt của các acid amin mạch nhánh đối với cơ thé được trình bày như sau: - Trong cơ thé, các acid amin sau khi được phân cắt từ protein thực phẩm sé tiếp tục được chuyển hóa hau hết ở gan, ngoại trừ các acid amin mạch nhánh, chúng đi vào mạch máu và chủ yếu chuyển hóa trong các mô cơ. Trong mô cơ, leucine có thé được oxy hóa hoặc chuyển hóa leucine thành glutamine hay alanine dé lấy năng lượng.
Sau đó, glutamine hoặc alanine có thể chuyển hóa thành glucose. Còn isoleucine và valine có thé được chuyển hóa thành những thành phan của chu trình Krebs dé sinh năng lượng.