Chương I. Tổng quan nghiên cứu Chương II. Cơ sở lý thuyết về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc sang thị trường Mỹ. Chương III.
Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc sang thị trường Mỹ của công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu ASA. 6 Chương IV. Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc sang thị trường Mỹ của công ty Xuất nhập khẩu ASA. 7 CHƯƠNG II.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU VÀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT HÀNG TÓC SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 2. Lý luận chung về xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu nói chung được rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập, phân tích theo từng chủ đích nghiên cứu riêng. Một số khái niệm được đưa ra như sau: Trong giáo trình Kinh tế ngoại thương, tác giả Bùi Xuân Lưu (2001) định nghĩa “xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài”.
Trong giáo trình Thương mại quốc tế, Feenstra and Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu của đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Ở đây, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Theo Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Khoản 1, Điều 28).
Nói tóm lại, có nhiều cách hiểu về xuất khẩu hàng hóa, tuy nhiên hiểu một cách khái quát nhất thì xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và bán cho người mua ở một quốc gia khác. Xuất khẩu hàng hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực và điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng đến phương tiện sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả những trao đổi như vậy đều nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan. Xuất phát từ bản chất, xuất khẩu hàng hóa không phải là hoạt động kinh doanh đơn lẻ mà là một hệ thống các hoạt động kinh doanh có tổ chức, dưới sự quản lý giám sát bởi các cấp nhà nước cả ở bên trong lẫn bên ngoài nhằm đem lại các nguồn lợi nhuận, 8 ngoại tệ, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế cho các quốc gia.
Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu hàng hóa chính là việc bán hàng hóa của quốc gia này sang quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Các loại hình xuất khẩu Xuất khẩu trực tiếp Là loại hình mà các doanh nghiệp sẽ xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ của mình cho các doanh nghiệp nước ngoài thông qua các tổ chức của mình, hai bên làm việc trực tiếp với nhau, không cần thông qua trung gian, giúp doanh nghiệp có thể chủ động việc tiêu thụ, phân phối sản phẩm của mình.
Với loại hình xuất khẩu này thì sẽ tiến hành đơn giản. Đối với bên xuất hay bên nhập khẩu thì cần tìm hiểu và nghiên cứu kĩ đối tác hay thị trường mà mình hướng đến. Các bên cần ký kết và thực hiện đúng như những điều khoản đã ký trong hợp đồng. + Ưu điểm: Lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được thường cao hơn các hình thức khác do giảm được các chi phí trung gian.
Doanh nghiệp có điều kiện phát huy tính độc lập của mình. Doanh nghiệp cũng có thể chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình. + Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu phải có lượng vốn khả lớn ứng trước để mua hàng hoặc sản xuất. Bên cạnh đỏ hình thức này có mức độ rủi ro lớn, nếu như không có cán bộ xuất nhập khẩu đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới thì doanh nghiệp sẽ dễ mắc phải sai lầm gây bất lợi cho mình.
Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu ủy thác) Là một trong những loại hình xuất khẩu có một bên trung gian nhận ủy thác của đơn vị xuất khẩu sẽ đóng vai trò thay cho chính doanh nghiệp sản xuất 9 để tiến hành ký kết hợp đồng đối với phía bên đối tác nước ngoài. Qua việc tiến hành những thủ tục mà phía trung gian sẽ nhận được phí, gọi là phí ủy thác. Đặc điểm của loại hình này là doanh nghiệp nhận ủy thác sẽ không cần bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, những giá trị hàng hóa mà bên ủy thác ký hợp đồng sẽ chỉ được tính vào kim ngạch xuất khẩu mà không tính trong doanh thu. + Ưu điểm: Mức độ rủi ro thấp nhờ người nhận uỷ thác hiểu rõ thị trường xuất khẩu, có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán.
Chi phí cho việc bán hàng ở thị trường nước ngoải thấp, tính linh hoạt cao. + Nhược điểm: Khả năng chớp cơ hội không cao, khó kiểm soát kênh phân phối, ít tiếp xúc với khách hàng và thị trưởng, lợi nhuận cũng bị chia sẻ. Gia công hàng xuất khẩu Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất mà công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu) từ công ty nước ngoài về để sản xuất hàng dựa trên yêu cầu của bên đặt hàng. Hàng hóa làm ra sẽ được bán ra nước ngoài theo chỉ định của công ty đặt hàng.
+ Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công: phương thức này giúp họ lợi dụng về nguyên phụ và nhân công giá rẻ của nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia công: phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình. + Nhược điểm: Tuy nhiên để thực hiện theo hình thức này, doanh nghiệp phải có mối quan hệ với các khách hàng đặt gia công có uy tín. Đây là một hình thức rất phức tạp nhất là quá trình thoả thuận với bên gia công về số lượng, chất lượng, nguyên vật liệu và tỷ lệ thu hồi thành phẩm, giám sát quá trình gia công.
Do đó, các cán bộ kinh doanh của doanh nghiệp phải am hiểu tường tận về các nghiệp vụ và quả trình gia công sản phẩm. Xuất khẩu tại chỗ Là loại hình nước xuất khẩu bán hàng cho thương nhân nước ngoài và được nhà nhập khẩu chỉ định giao hàng cho một đơn vị khác trên lãnh thổ của chính nước xuất khẩu đó. 10 Tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập Là hình thức mà hàng hóa chỉ tạm thời đưa vào lãnh thổ một nước rồi sau đó được xuất sang nước khác (tạm nhập tái xuất), hoặc hàng trong nước được tạm xuất ra nước ngoài và sau một thời gian nhất định lại được nhập về (tạm xuất tái nhập) + Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn. + Nhược điểm: Kinh doanh tái xuất đòi hỏ sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán.
Do vậy khi doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương thức này thì cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyện môn cao. Buôn bán đối lưu Hình thức buôn bán đối lưu được hiểu là hình thức xuất khẩu mà trong đó người mua đồng thời là người bán và ngược lại, với lượng hàng xuất và nhập khẩu có giá trị tương đương. Hình thức này còn gọi là xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng. Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tránh được sự biến động của tỉ giá hối đoái trên thị trưởng ngoại hối đồng thời có lợi khi các bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình.
Doanh nghiệp ngoại thương có thể sử dụng hình thức xuất khẩu này để nhập những loại hàng hoá mà thị trường trong nước đang rất cần hoặc có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba. Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng được áp dụng phổ biến nhất, trao đổi bù trử, giao dịch bồi hoàn, mua đối lưu, chuyển nợ. Xuất khẩu theo nghị định thư ký kết giữa các Chính phủ Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hóa theo chương trình đã được ký kết theo nghị định thư của hai chính phủ và thường là chương trình trả nợ giữa hai chính phủ. Hình thức này đảm bảo khả năng thanh toán.
Lý luận chung về thúc đẩy xuất khẩu 2. Khái niệm về thúc đẩy xuất khẩu Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa được hiểu là việc nhà nước hoặc doanh nghiệp áp dụng tổng thể các phương thức để tạo ra các cơ hội và khả năng gia tăng sản lượng và giá trị của hàng hóa được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, tăng cường việc tiêu thụ hàng hoá tại thị trường nước ngoài. Cũng có thể hiểu thúc đẩy xuất khẩu là một cách thức để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Đây là một vấn đề quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào nói chung và với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu tóc nào nói riêng.
Như vậy, chúng ta cũng có thể hiểu rằng thúc đẩy xuất khẩu là một hoạt động tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm. Bản chất của thúc đẩy xuất khẩu là việc doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để tăng kim ngạch xuất khẩu, giá trị xuất khẩu, thị trường xuất khẩu và lợi nhuận thu được từ hoạt động xuất khẩu của mình. Thúc đẩy xuất khẩu là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh xuất khẩu, giúp cho các doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận kinh doanh và mở rộng quy mô hoạt động.