CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về thị trường vận tải biển, thị trường vận tải container quốc tế bằng đường biển 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu đến thị trường vận tải biển.
Brooks và các cộng sự (2002) cho rằng có 5 vấn đề vận tải biển: đội tàu và phương thức vận chuyển, cạnh tranh, tài chính của doanh nghiệp vận tải biển, luật và chính sách, cảng biển. Cullinane (2005) đã phân biệt kinh tế vận chuyển và kinh tế cảng, phân tích thị trường, tài chính tàu, chính sách hàng hải, an toàn hàng hải, logistics và chuỗi cung ứng. Trong đó, có đề cập đến vận chuyển trong vận tải biển gồm 3 loại hàng: hàng rời, hàng lỏng và hàng container và giới thiệu công nghiệp container ở Trung Quốc. Rodrigue và các cộng sự (2006) cho rằng các tuyến đường vận tải container thế giới gồm tuyến thương mại Đông-Tây, tuyến thương mại Bắc-Nam, tuyến nội vung; phân tích đặc điểm các tuyến đường, điều kiện địa lý và khí hậu, vấn đề tự do hóa vận tải biển trên thế giới và một số nước OECD.
Luận án kế thừa và sử dụng có chọn lọc cách phân loại hàng hóa, phân loại tuyến đường container và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường vận tải biển. Về thị trường vận tải container, Lun và các cộng sự (2010) cho rằng thị trường vận tải container gồm: các yếu tố cấu thành thị trường vận tải container, các tuyến vận chuyển container, vấn đề an ninh và an toàn hàng hải, hệ thống cảng container. Các bài viết khá ấn tượng và có các mô hình toán hiện đại và số liệu minh chứng hỗ trợ. Conville (1999), Wilson (2008), Jansson và Shneerson (2010) cung cấp cái nhìn toàn cảnh về ngành hàng hải thế giới, phân tích qua các yếu tố cấu thành thị trường vận chuyển container như đội tàu, giá cước, tài chính, tuyến đường vận chuyển.
Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển UNCTAD hàng năm có Báo cáo về dịch vụ vận tải biển “Review of maritime transport”, trong đó có những phân tích, đánh giá về sự phát triển của ngành hàng hải quốc tế, gồm đội tàu container thế giới, các tuyến đường vận chuyển container bằng đường biển, hệ thống cảng biển, những thay đổi về hàng hải quốc tế, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là những cơ sở khoa học để xây Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 10 dựng cơ sở lý luận, phân tích về thực trạng và xu hướng phát triển của thị trường vận tải container quốc tế cho luận án. Bên cạnh sách chuyên khảo, có rất nhiều các bài báo viết về vận tải container. Tiêu biểu là Hsua và Hsieha (2007) đã xem xét bài toán Pareto dựa trên mối quan hệ giữa tuyến đường, cỡ tàu và công suất tàu để xây dựng tuyến đường container.
Chernova và Volkov (2010) đã xây dựng tuyến container Biển Bắc trên cơ sở tính toán chi phí và so sánh với tuyến vận chuyển qua đào Suez. Mikulko (2013) xây dựng mô hình toán về các yếu tố ảnh hưởng đến tuyến vận chuyển container Trung Quốc - Nga nhằm lựa chọn cảng đến tối ưu. Han và các cộng sự (2011) áp dụng trong vận tải gần và vận tải nội địa từ Myanmar đi các nước Đông Nam Á, xây dựng mô hình chi phí, sản lượng và tuyến đường nhằm tối ưu hoá chi phí vận chuyển. Martínez-López và các cộng sự (2013) xây dựng mô hình chi phí và thời gian cho 3 loại tàu Ro - Ro, feeder và Ro - Pax trong các tuyến vận tải gần tại Biển Bắc, đánh giá khả năng cạnh tranh và đề xuất những thay đổi để tăng hiệu quả vận chuyển.
Jugović và các cộng sự (2015); Lun (2013) đề xuất 10 yếu tố chính ảnh hưởng đến thị trường vận tải biển. Đây cũng là các cơ sở khoa học để luận án phân tích về thực trạng và xu hướng phát triển của thị trường vận tải container quốc tế. Các công trình nghiên cứu trong nước Hiện ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vận tải biển. Tuy nhiên, các đề tài tập trung vào các lĩnh vực khác, chưa đi sâu vào nghiên cứu thị trường vận tải container quốc tế.
Về các luận án tiến sĩ, Nguyễn Như Tiến (1996) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế của chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng container và đưa ra các biện pháp tăng sản lượng vận chuyển. thị trường vận tải container quốc tế chưa được đề cập đến. Nguyễn Hoàng Tiệm (2000) đã đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng, những tồn tại trong cơ chế, chính sách, hệ thống luật pháp và cơ chế quản lý, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp vận tải biển, cảng biển và dịch vụ hàng hải. Luận án tập trung vào nghiên cứu hệ thống pháp luật và quản lý trong vận tải biển, chưa đề cập đến yếu tố thị trường.
Vũ Thị Minh Loan (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thị phần vận tải và các nhân tố ảnh hưởng, phân tích và đánh giá hiện trạng quản lý Nhà nước trong việc nâng cao thị phần của đội tàu biển Việt Nam. Luận án chỉ tập trung phân tích thị phần của đội tàu biển Việt Nam qua các văn bản pháp luật về vận tải biển chứ không phân tách thị trường vận tải nội địa và thị trường quốc tế và không đề cập sâu đến thị trường vận chuyển container. Vũ Trụ Phi (2005) đưa ra các giải pháp khai thác nguồn vốn để phát triển đội tàu Việt Nam, qua đó tìm Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 11 ra các giải pháp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Luận án có phân tích về đội tàu container của Việt Nam nhưng không đề cập đến yếu tố thị trường trong luận án.
Vũ Hữu Hùng (2007) nghiên cứu tình hình khai thác của đội tàu container từ năm 1996- 2007, dự báo nhu cầu và lập mô hình vận tải liner cho đội tàu container Việt Nam. Luận án có đề cập đến các yếu tố cung - cầu tác động đến thị trường vận tải container, tuy nhiên chỉ nghiên cứu chuyên sâu về hình thức vận tải liner cho đội tàu container. Vũ Thế Bình (2000) đã hệ thống hoá các xu hướng phát triển tàu container hiện nay, phân tích và đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng, những hạn chế trong việc phát triển đội tàu container, đề xuất các giải pháp qua bài toán giới hạn. Yếu tố thị trường chưa được đề cập trong luận án này.
Đỗ Mai Thơm (2012) phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam, từ đó xây dựng mô hình tổ chức thực hiện công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành. Yếu tố thị trường chưa được đề cập trong luận án này. Mai Khắc Thành (2013) hệ thống hoá cơ sở lý luận về đội ngũ quản lý, nghiên cứu thực trạng đội ngũ quản lý tại 5 doanh nghiệp vận tải biển: và đề xuất các giải pháp phát triển. Luận án có phân tích về nguồn nhân lực trong vận tải biển và cách phân loại doanh nghiệp trong luận án nhưng dựa trên góc độ của nhà quản lý.
Đinh Lê Hải Hà (2013) đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp phát triển. Luận án có đề cập đến hệ thống cảng biển, đội tàu, thị trường vận tải, các yếu tố cấu thành thị trường nhưng chưa phân tích sâu về thị trường quốc tế và hàng container. Nguyễn Thị Liên (2017) đã đánh giá thực trạng hệ thống vận tải gạo xuất khẩu của Việt Nam, dự báo nhu cầu và lựa chọn các tham số cơ bản để xây dựng hệ thống tối ưu. Luận án chỉ lựa chọn 1 loại hàng rời để phân tích.
Lưu Quốc Hưng (2017) xây dựng 13 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển, so sánh với các quốc gia khác để đề xuất các giải pháp khai thác và tận dụng các yếu tố cạnh tranh của vận tải biển Việt Nam. Các doanh nghiệp vận tải biển trong nước và nước ngoài đã được đề cập đến trong luận án nay nhưng chưa cụ thể. Luận án tập trung so sánh các yếu tố cạnh tranh chứ không phân tích về thị trường vận tải container quốc tế. Về đề tài nghiên cứu vận tải biển, Đinh Ngọc Viện (2001) đã nghiên cứu và đánh giá thực trạng và năng lực cạnh tranh của các lĩnh vực vận tải, bốc xếp, dịch vụ và đưa ra các giải pháp tập trung phát triển đội tàu vận tải quốc gia về kỹ thuật công nghệ và tổng trọng tải đội tàu.
Lê Thanh Hương (2011) đã phân tích tác động của khủng hoảng tới sản lượng vận tải, giá cước, doanh thu, lợi nhuận; phân tích các nhân tố ảnh hưởng; xây dựng ma trận SWOT cho ngành hàng hải, vai trò của quản lý Nhà nước và đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại. Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 12 Về các đề án, Cục hàng hải Việt Nam (2013) đã phân tích sản lượng và thị phần vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của đội tàu biển Việt Nam; đánh gía những tồn tại trong 3 lĩnh vực: quản lý khai thác đội tàu biển, đội tàu, hoạt động khai thác vận tải biển; học tập kinh nghiệm 3 quốc gia châu Á có đội tàu phát triển Thái Lan, Philipines và Malaysia; đề xuất các giải pháp với 2 đối tượng: cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp vận tải biển để tăng thị phần. Về các báo cáo vận tải biển, Cục hàng hải Việt Nam (2013) đã rà soát điều chỉnh một số nội dung quy hoạch: vận tải biển, đội tàu. Các vấn đề về môi trường biển cũng được trình bày trong báo cáo này.
Cục hàng hải Việt Nam (2015) đã phân tích thực trạng 5 yếu tố: kết cấu hạ tầng hàng hải, vận tải biển và dịch vụ hàng hải, hệ thống văn bản quản lý phát luật, cơ chế chính sách, quy hoạch phát triển ngành. Từ đó đề ra giải pháp tái cơ cấu ngành hàng hải cũng như đổi mới, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trong giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ngoài ra, còn có các sách chuyên khảo, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến thị trường vận tải biển. Về sách chuyên khảo, Phạm Văn Cương (1995) đề cập đến vai trò, đặc điểm, cơ sở vật chất, ưu nhược điểm của vận tải đường biển; khai thác vận tải biển, các nghiệp vụ khai thác đội tàu; Hoàng Văn Châu (2009) cung cấp cơ sở lý thuyết về logistics, các phương thức giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, đường sắt, đường hàng không.