CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU ĐỂ SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đã được công bố Công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu là công tác đặc thù, chuyên trách của cơ quan Hải quan theo Luật định. Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan chính là những cơ quan nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ, Quốc Hội trong việc xây dựng Luật Hải quan và các Nghị định, Thông tư liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hải quan nói chung và Công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng.
Vì vậy, các công trình nghiên cứu về Quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đã được công bố thực sự chưa có nhiều. Nguyễn Thị Nga (2005) đã thực hiện nghiên cứu: ”Quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động nhập sản xuất xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh hội nhập Kinh tế Quốc tế“ cho đề tài Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Hoàng Thùy Dương (2010) đã có nghiên cứu, tổng kết những tồn tại về Quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu ở Cục Hải quan Thành phố Hà Nội gồm có các nguyên nhân khác quan và nguyên nhân chủ quan. Cụ thể: Nguyên nhân khác quan được xác định, gồm: (1) Một số khiếm khuyết trong quy định pháp luật về hải quan; (2) Một số yếu kém trong tổ chức công việc, công nghệ thông tin và cán bộ của Cục Hải quan TP Hà Nội.
Các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía doanh nghiệp được xác định gồm: (1) Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của khai báo hải quan điện tử; (2) Chưa coi trọng khâu đăng ký nguyên liệu đầu vào; (3) Tính đặc thù của tờ khai nhập khẩu trong hoạt động nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu. Để tháo gỡ các vướng mắc, tác giả cũng đề xuất các giải pháp đối với Cục Hải quan TP Hà Nội như sau: 4 - Đối với cơ quan Hải quan cần: (1) Bổ sung một số nội dung chưa được hướng dẫn cụ thể trong quy định thủ tục hải quan để giải quyết tình trạng xử lý không đồng nhất hiện nay; (2) Tiếp tục nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp khai báo hải quan điện tử từ 2010; (3) Tăng cường cán bộ hải quan về cả chất và lượng, và tổ chức hội thoại giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp. - Các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu cần: (1) Đào tạo và bố trí cán bộ chuyên trách làm thủ tục hải quan nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu; (2) Cập nhật thông tin về triển khai hải quan điện tử của cơ quan Hải quan và có kế hoạch, biện pháp triển khai hoạt động này. - Kiến nghị Chính phủ nâng lương cho cán bộ hải quan, các bộ ngành chức năng tiếp tục bổ sung ban hành các mã số hàng hóa còn thiếu, Bộ Tài chính bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện đại lý hải quan.
Theo học viên Trần Hồ Quốc Thiện (2011), Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, do cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu chưa thống nhất và đồng bộ đã gây nhiều cản trở cho sự phát triển của phương thức này, tạo sơ hở cho một số doanh nghiệp lợi dụng trốn thuế và làm phát sinh nhiều vướng mắc trong khi thực hiện chế độ quản lý của cơ quan Hải quan. Đồng thời, Nghị quyết 25/NQ-CP của Chính phủ về việc đơn giản một số thủ tục hành chính của các Bộ, ngành trong đó có ngành Hải quan cũng đòi hỏi cơ quan hải quan cũng phải thay đổi cách quản lý theo hướng tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhưng vẫn không buông lỏng quản lý. Do đó, việc nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng hoạt động nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ quản lý Nhà nước về hải quan đối với các lĩnh vực này có một ý nghĩa rất quan trọng. Nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được nợ thuế trong thời hạn 275 ngày, vì vậy việc quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu rất khó khăn và phức tạp vì cơ quan hải quan phải theo dõi cả quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp từ khi nhập nguyên vật liệu cho đến khi sản phẩm thực sự xuất khẩu.
Với đội ngũ cán bộ được đào tạo đúng 5 chuyên ngành, sự tích cực và quyết tâm đưa CNTT vào công tác theo dõi nợ thuế, thanh khoản…, sự chủ động trong việc tổ chức tốt công tác quản lý nợ thuế, quản lý không thu thuế, hoàn thuế, Cục Hải quan Đồng Nai đã có những nỗ lực nhằm quản lý hiệu quả hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy nhiên trên thực tế từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong công tác quản lý vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong việc quản lý định mức nguyên vật liệu, kiểm soát tình hình gian lận thương mại,…Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng tình hình quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Đồng Nai. Luận văn đã nêu một số tồn tại, vướng mắc và đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy và nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động này. Đề tài “ Hoàn thiện tổ chức kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu do Hải quan Việt Nam thực hiện” được học viên Trần Thị Na (2011) lựa chọn để làm đề tài luận văn thạc sĩ trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Theo nhận định của tác giả, do Hải quan Việt Nam đã chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm tra trong thông quan sang kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) theo cơ chế quản lý hải quan hiện đại. Theo đó, thay vì kiểm tra 100% hàng hóa nhập khẩu trong khâu thông quan, Cơ quan Hải quan sẽ thông qua hệ thống quản lý rủi ro trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro tiến hành phân luồng và áp dụng biện pháp kiểm tra thích hợp đối với hàng hóa nhập khẩu. Nhưng thực tế hoạt động KTSTQ đã phát hiện nhiều bất cập, sơ hở trong khâu thông quan đặc biệt là đối với hàng hoá nhập khẩu như phí kỳ vụ, nhập khẩu hàng hoá tạo TSCĐ, xác minh thanh toán qua ngân hàng, hàng gia công, hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Do vậy, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTSTQ là yêu cầu tự thân của Hải quan và thực hiện vai trò đảm bảo cho cải cách thủ tục hành chính ở khâu thông quan.
Những tồn tại trong quản lý về thủ tục hải quan của Cục Hải quan Thanh Hóa đối với nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu giai đoạn 2005-2011 đã được Đỗ Thị Hồng (2012) thống kê. Kết quả cho thấy tỷ lệ khai sai chủng loại hàng hóa Nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu có xu hướng giảm, nhưng không hẳn là do 6 DN sai đúng, mà do công tác kiểm tra hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu của Cục Hải quan Thanh Hóa chưa được đẩy mạnh; Việc áp dụng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế: tình trạng quá tải khi khai báo trên máy tính tại cơ quan hải quan liên tục xẩy ra, đặc biệt là vào các tháng đầu năm hoặc cuối năm; Việc kiểm tra, rà soát giá tính thuế mà doanh nghiệp khai báo với Cục Hải quan Thanh Hóa chủ yếu tập trung vào hàng có thuế, còn đối với loại hình nhập khẩu hàng hóa để sản xuất hàng xuất khẩu ít khi thực hiện. Năm 2011, tại Cục Hải quan Thanh Hóa đã phát hiện 32 bộ hồ sơ khai sai trị giá tính thuế, trong đó chỉ có 6 bộ hồ sơ là đúng hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế, còn lại 26 bộ hồ sơ là khai sai để trốn thuế; Việc kiểm tra thực tế hàng hóa (kiểm tra xác suất theo tỷ lệ % số lượng hàng hóa) cũng có thể dẫn đến nhận định kết quả kiểm hóa không khách quan nên vẫn còn một số trường hợp lợi dụng để vi phạm pháp luật. Tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại này là do năng lực của cán bộ kiểm tra, giám sát của Cục Hải quan Thanh Hóa còn yếu và thiếu kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ.
Cán bộ Hải quan chủ yếu được đào tạo về kinh tế, nên việc phân loại hàng hóa phụ thuộc vào đánh giá của cá nhân và không có hiểu biết về công nghệ thông tin nên còn lúng túng trong xử lý khai báo hải quan điện tử. Bên cạnh đó, việc định giá áp thuế cũng còn nhiều lúng túng và cán bộ chưa tập trung quan tâm nhiều đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Ngoài ra, Các cuộc KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa còn quá ít. Thống kê cho thấy số cuộc KTSTQ đối với hàng hóa NK để sản xuất hàng XK chiếm tỷ lệ nhỏ so với số lần KTSTQ với các loại hàng hóa khác.
Hơn nữa tỷ lệ cuộc kiểm tra này còn có xu hướng giảm trong thời gian thống kê. Do nhận thức của cán bộ công chức về kiểm tra sau thông quan đối với nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu còn chưa cao. Phần lớn đều không muốn kiểm tra việc nhập khẩu loại hình này. Bởi so với các loại hình khác như đầu tư thì số tiền có thể truy thu được khi đi vào kiểm tra sẽ không cao bằng số tiền truy thu thuế của loại hình đầu tư.
7 Tác giả Trần Quang Thông (Luận văn thạc sĩ, 2014) đã nghiên cứu: “Hoàn thiện thủ tục quản lý loại hình sản xuất xuất khẩu tại Cục hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế.