Mở đầu: trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phạm vị nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày cơ sở lý thuyết của mô hình trọng lực trong thương mại, sự phát triển và bổ sung của mô hình này theo thời gian. Đối với các nghiên cứu trước, tập trung phân tích phương pháp xây dựng mô hình với các biến khác nhau và kết quả của các nghiên cứu đó. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu: trình bày phương pháp tiếp cận, thu thập và xử lý dữ liệu.
Phân tích kết quả nghiên cứu: thông qua thống kê mô tả, phương pháp phân tích kết quả mô hình kinh tế lượng để xác định các tác động của rào cản phi thuế quan đến thương mại Việt Nam. Kết luận và kiến nghị: tóm tắt kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó đề ra những khuyến nghị chính sách. Trang 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Rào cản thương mại Khái niệm rào cản thương mại: Rào cản thương mại là những quy định, hành động, quy trình, tiêu chuẩn có tính chất gây cản trở trong thương mại nhằm hạn chế việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia.
Rào cản thương mại rất đa dạng, phức tạp và được quy định, điều chỉnh bởi hệ thống luật, thỏa thuận, hiệp định quốc tế. Đồng thời từng quốc gia theo mức độ hội nhập và luận điểm của mình dựa trên các quy định chung của quốc tế lại đưa ra những biện pháp phòng vệ đối với thương mại. Phân loại rào cản thương mại: rào cản thương mại thường được chia thành hai loại, đó là rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan. Nếu rào cản thuế quan là loại rào cản dễ dàng định tính và đo lường thì rào cản phi thuế quan hiện nay khá phức tạp do cách quy định riêng của từng nước.
Rào cản thuế quan: thuế quan là rào cản phổ biến nhất trong lịch sử thương mại quốc tế. Các hiệp định thương mại song phương, đa phương hầu hết đi vào mục tiêu cắt giảm dần các rào cản thuế quan và ràng buộc các thành viên tham gia vào hiệp định phải tuân thủ những nguyên tắc như cắt giảm theo lộ trình, không được tùy tiện nâng cao mức thuế quan. Rào cản thuế quan hiện có những loại thuế quan phổ biến gồm: thuế phần trăm, thuế phi phần trăm và thuê quan đặc thù. Rào cản phi thuế quan: theo WTO thống nhất cách hiểu về rào cản phi thuế quan thì đây là rào cản không dùng thuế quan mà dùng các biện pháp hành chính hoặc biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài và bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
Ngược lại với các nỗ lực cắt giảm hàng rào thuế quan, hiện nay các rào cản phi thuế quan lại đang phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó nổi trội là hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Trang 7 Theo WTO (1995) quy định tại Phụ lục 1 - Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại thì rào cản kỹ thuật được chủ yếu được điều chỉnh bởi những định nghĩa sau: - Quy chuẩn kỹ thuật (Technical regulations): là những quy chuẩn được ban hành bằng văn bản quy định các đặc đính của sản phẩm hoặc các quá trình liên quan đến sản phẩm và phương pháp sản xuất. - Tiêu chuẩn (Standards): văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia ban hành để áp dụng rộng rãi, lâu dài, trong đó quy định các quy tắc, hướng dẫn, yêu cầu đặc tính đối với sản phẩm. - Quy trình đánh giá sự phù hợp (Conformity assessment procedures): là bất cứ quy trình được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định các yêu cầu liên quan trong quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn có được thỏa mãn hay không.
Qua những khái niệm và phạm vi mà WTO quy định, cùng một số khái niệm do nhiều học giả đưa ra, Nguyễn Hữu Khải (2014) nhấn mạnh các yếu tố mấu chốt của rào cản kỹ thuật trong thương mại bao gồm: - Gây cản trở tới thương mại; - Bắt nguồn từ những quy định liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp; - Hình thành do có sự khác biệt giữa các quốc gia về các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình đánh giá. Mục đích và tác động của rào cản thương mại: Sự ra đời của rào cản thương mại cũng đã đi song song với sự hình thành và phát triển của thương mại quốc tế. Có nhiều mục đích khác nhau để hình thành và tồn tại những rào cản thương mại, bao gồm: - Mục đích chính trị: các chính phủ đưa ra rào cản thương mại như một động thái chính trị nhằm hợp tác hoặc kháng cự lại tương tác từ những quốc gia khác. Rào cản thương mại trong trường hợp này thương rất khắc nghiệt như cấm vận, áp thuế suất cao, đưa ra Trang 8 các rào càn kỹ thuật khắt khe nhằm hạn chế tối đa sự giao thương qua lại giữa các nền kinh tế.
- Vì mục đích bảo vệ nền kinh tế nội địa: sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài thường gây áp lực lớn đến ngành sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp nội địa và việc làm của người lao động trong nước, đồng thời, đặt ra các rào cản thuế quan cũng giúp các chính phủ tăng thu ngân sách qua việc nhập khẩu. - Vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng trong nước: các rào cản phi thuế quan, đặc biệt là rào cản kỹ thuật được xem là bảo vệ người tiêu dùng khi các rào cản này hướng đến những quy định hợp lý về an toàn, chất lượng của sản phẩm và sự tác động đến môi trường. - Vì mục đích đáp lại các hành động thương mại không bình đẳng: các quốc gia cũng có thể tăng cường xây dựng các rào cản đối với những quốc gia mà họ cho rằng đã không được áp dụng những biện pháp phòng vệ thương mại bình đẳng.2 Các hiệp định thương mại quốc tế 2. Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại Hiệp định GATT đầu tiên là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản cho thương mại quốc tế như sau: Thứ nhất là ưu tiên sử dụng thuế quan hơn hạn ngạch và tiến dần đến việc loại bỏ hạn ngạch (GATT, điều XI).
Thứ hai là nguyên tắc không phân biệt đối xử. đặc biệt là không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên của GATT. Nguyên tắc này rất quan trọng và thường được diễn ra trong các vòng đàm phán đa phương do việc áp dụng một biện pháp thuế quan nào cho bất kỳ quốc gia thành viên của GATT thì các nước khác cũng mặc nhiên áp dụng theo. Thứ ba: hiệp định GATT đưa ra miễn trừ cho phép không áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử.
Trang 9 Thứ tư, GATT cho phép các nước thành viên áp dụng mức thuế quan đặc biệt trong trường hợp nước xuất khẩu bán phá giá hàng hóa. Cuối cùng, GATT cho phép các cuộc đàm phán thương lượng của các liên minh thuế quan và các khu vực tư do thương mại. Hiệp định GATT đã được chỉnh sửa nhiều lần, Vòng đàm phán Uruguay 1986 – 1994 được xem là sự mở rộng toàn diện nhất của các hiệp định thương mại quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản của GATT vẫn giữ nguyên cho đến nay.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Sự ra đời của WTO trên cơ sở vòng đàm phán Uruguay năm 1994, đây là sự phát triển của Tổ chức Thương mại Quốc tế trước đó nhằm thực thi hiệp định GATT đầu tiên. WTO có 3 chức năng chính, bao gồm: (1) giữ vai trò là tổ chức trung gian trong đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế; (2) là nơi lưu giữ các hiệp định quốc tế có tác động đến thương mại và (3) là tổ chức thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp. Tính đến ngày 29/07/2016, WTO có 164 thành viên. Hiệp định về hàng dệt may Hiệp định về dệt may được xây dựng nhằm hướng thương mại trong dệt may vào khung GATT/WTO.
Các điều luật về thương mại được điều chỉnh thành nhiều giai đoạn dựa trên 3 chủng loại hàng hóa: chỉ, sợi, nguyên liệu dệt; các sản phẩm dệt và quần áo. Hiệp định về hàng dệt may này đã giúp dung hòa lợi ích giữa các quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu hàng dệt may. Các quy định cũ trong Thỏa thuận đa sợi (MFA) cũ được tiếp tục áp dụng cho những giao dịch thương mại chưa được hiệp định dệt may điều chỉnh.2 Lý thuyết thương mại quốc tế 2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Adam Smith là người đặt nền móng cho lý thuyết lợi thế tuyệt đối, theo đó, ông cho rằng lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghề của lao động riêng biệt mà chỉ riêng quốc gia đó có được. Adam Smith khẳng định nguồn gốc của tăng trưởng là do sự tự do trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, và các quốc gia cần dựa vào lợi thế tuyệt đối của mình để tập trung chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất có chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa đó phải thấp hơn quốc gia khác.
Và khi các quốc gia tập trung chuyên môn hóa thì sẽ đạt được lợi ích lớn hơn thông qua phân công lao động quốc tế, sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu lại các mặt hàng không có lợi thế. Vậy, điều then chốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là so sánh chi phí sản xuất theo từng đơn vị hàng hóa giữa các quốc gia.2 Lý thuyết lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được vì sao một nước không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác nhưng vẫn thu lợi khi tham gia vào quá trình thương mại quốc tế. Thêm vào đó, lợi tuyệt đối của mỗi quốc gia là không có nhiều và phần lớn các quốc gia trao đổi thương mại với nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuyệt đối mà còn đối với cả những mặt hàng dựa trên lợi thế tương đối. Lợi thế tương đối được hiểu là lợi thế khi tập trung sản xuất vào hàng hóa có chi phí thấp hơn so với các hàng hóa còn lại.