LỜI MỞ ĐẦU @@@ 1. Lý do chọn đề tài: Ở Việt Nam, cây cao su có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế quốc dân mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội. Cao su là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam không chỉ có giá trị xuất khẩu cao, mà còn giúp giải quyết việc làm cho một lượng lớn dân cư, cây cao su giúp bảo vệ môi trường, giữ đất chống sói mòn, lũ lụt,… Trong xu thế hội nhập quốc tế, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, thách thức đặt ra đối với nền kinh tế nói chung và ngành cao su Việt Nam nói riêng là làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh, sẳn sàng hội nhập. Trong đó, xuất khẩu cao su đóng vai trò quan trọng, nó giúp ngành cao su Việt Nam phát triển.
Vì vậy, đòi hỏi ngành cao su Việt Nam phải đổi mới tổ chức quản lý, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và hướng đến xuất khẩu, trong đó Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam giữ vai trò chủ đạo. Xuất phát từ việc tìm hiểu lý luận và thực trạng xuất khẩu cao su Việt Nam để xây dựng giải pháp phát triển xuất khẩu cao su của ngành cao su Việt Nam nói chung và Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam nói riêng mà đề tài “NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC XUẤT KHẨU CAO SU CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP CAO SU VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015” ra đời. Mục đích nghiên cứu: Các mục tiêu chính: - Dựa trên việc tìm hiểu lý luận chung về xuất khẩu, vận dụng nghiên cứu tình hình phát triển ngành cao su của một số nước trên thế giới để chuyển thành kinh nghiệm phát triển ngành cao su Việt Nam. - Trên cơ sở phân tích hệ thống hiện trạng tổ chức sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu cao su của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, nhằm mục đích xác định được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để đề xuất giải pháp thiết thực đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cao su, tạo thị trường đầu ra ổn định, giúp nền kinh tế phát triển, cải thiện tình hình đời sống nhân dân.
- Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phát triển công tác xuất khẩu cao su của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và các công ty thành viên. - Sản phẩm nghiên cứu: chỉ tập trung nghiên cứu các loại mủ cao su xuất khẩu. - Phạm vi nghiên cứu: trên địa bàn có các công ty, xí nghiệp, nông trường trực thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam.
- Giai đoạn, thời gian nghiên cứu: năm 2003 - năm 2006 4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện dựa trên: - Các kiến thức, lý luận cơ bản về xuất khẩu. - Vận dụng cách tiếp cận theo duy vật biện chứng, vận dụng quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển ngành cao su Việt Nam, theo cách tiếp cận hệ thống hoạt động xuất khẩu của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam để phân tích thực trạng, từ đó có nhận định và đề xuất các giải pháp phát triển công tác xuất khẩu mủ cao su của Tập đoàn này. - Các thông tin từ khảo sát điều tra, tìm hiểu tình hình thực tế của các công ty.
Các phương pháp được sử dụng: - Phương pháp so sánh. - Phương pháp phân tích. - Phương pháp thống kê. Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu: Các số liệu thông tin thứ cấp: - Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và các công ty, xí nghiệp thành viên.
- Hiệp hội cao su Việt Nam - Tạp chí cao su Việt Nam - Cục thống kê Tp. Các số liệu thông tin sơ cấp: Kết quả của phương pháp lập Bảng câu hỏi và khảo sát điều tra các bộ phận liên quan đến xuất khẩu mủ cao su của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và một số công ty xuất khẩu mủ cao su khác mà tác giả đã thực hiện. Bố cục đề tài: Đề tài có bố cục như sau: CHƯƠNG1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XUẤT KHẨU CAO SU CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP CAO SU VIỆT NAM CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC XUẤT KHẨU CAO SU CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP CAO SU VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 1 2 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU: 1.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế: Vào cuối thế kỷ XV, các nhà kinh tế học cổ điển đã phát hiện ra vai trò rất quan trọng của thương mại quốc tế trong quá trình phát triển kinh tế quốc gia. Kể từ đó đến nay, các nhà khoa học nhiều thế hệ tiếp theo đã nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện từng bước về mặt lý luận của vấn đề này, các nước đang bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa có thể vận dụng tốt hơn vào thực tế phát triển nền kinh tế của mình.
Sau đây là một số nội dung cơ bản của hệ thống lý luận về thương mại quốc tế dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của mỗi quốc gia.1 Thuyết trọng thương: Chủ nghĩa trọng thương ra đời cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI ở Anh và Pháp, trong bối cảnh trình độ sản xuất đã được nâng cao, công nghiệp phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa,…tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển. Vai trò của giới tư nhân được đề cao và chính họ đề ra lý thuyết cơ bản của trường phái trọng thương. Họ coi trọng xuất nhập khẩu và cho rằng: chính xuất nhập khẩu là con đường đem lại phồn vinh cho đất nước. Tuy nhiên, quan điểm của trường phái trọng thương rất cực đoan khi xem thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, tức là giữa hai quốc gia giao thương nếu bên này có lợi thì bên kia sẽ bị thiệt hại tương ứng, do đó họ đòi hỏi trong quan hệ thương mại quốc tế để lợi ích quốc gia được đảm bảo, xuất khẩu phải lớn hơn nhập khẩu (xuất siêu).
Từ đó họ chủ trương kêu gọi chính phủ bảo hộ mậu dịch và sản xuất trong nước bằng các hàng rào thuế quan và cấm ngặt việc xuất khẩu nguyên liệu, bảo đảm độc quyền kinh doanh để dành ưu thế cạnh tranh với nước ngoài… Nhưng dẫu sao thì thuyết trọng thương cũng nêu lên được quan điểm rất tiến bộ thời bấy giờ là biết coi trọng thương mại quốc tế và cho rằng chính phủ có vai trò can thiệp nhất định vào hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động ngoại thương, mở đường cho các tư tưởng tiến bộ trong thương mại quốc tế sau này.2 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith: Đến giữa thế kỷ XVIII, công nghiệp phát triển mạnh ở Châu Au, mậu dịch phát triển sâu rộng, tiền tệ được phát hành và hệ thống ngân hàng ra đời. Trong bối cảnh đó, nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh là Adam Smith đã đưa ra quan điểm mới về thương mại quốc tế, đó là lý thuyết về lợi thế tuyệt đối. Quan điểm của A.Smith đề cao vai trò của cá nhân, ông cho rằng mỗi người khi làm gì đều nghĩ đến tư lợi của mình, điều đó cũng có lợi cho tập thể và xã hội. Vì vậy, chính phủ không cần can thiệp vào hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp, cứ để cho họ phát triển sẽ có lợi cho nền kinh tế.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith cho rằng hai quốc gia khi giao thương với nhau thì hai bên đều có lợi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia. Lợi thế tuyệt đối được coi là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để cùng sản xuất ra một loại sản phẩm. Mỗi quốc gia chỉ nên xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu các sản phẩm mà mình không có lợi thế tuyệt đối. Theo lý thuyết này, sự chuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối sẽ giúp tài nguyên kinh tế của một đất nước được khai thác hợp lý hơn, thông qua trao đổi mậu dịch quốc tế, tổng khối lượng sản phẩm tiêu dùng sẽ tăng cao hơn, chi phí rẻ hơn so với các trường hợp phải tự sản xuất toàn bộ trong nước.
Ưu điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ rõ, mỗi quốc gia phải chuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối. Đồng thời, thông qua trao đổi sản phẩm có lợi thế tuyệt đối của các nước khác, từ đó nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Điểm cốt lõi của khái niệm này là cho rằng các quốc gia giao thương đều có lợi trong các hoạt động thương mại quốc tế.3 Lý thuyết về quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo: Trong tác phẩm “Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế” xuất bản năm 1817. David Ricardo cho rằng trong quan hệ thương mại quốc tế không nên đặt vấn 4 đề lợi ích của hai bên phải bằng nhau, mà căn bản là hai bên có lợi hơn so với trường hợp không có trao đổi mậu dịch.
Cơ sở luận điểm trên thì lý thuyết về quy luật lợi thế so sánh với nội dung căn bản: “Mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu trở lại các sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh”. Khác với lợi thế tuyệt đối của A.Smith, lợi thế so sánh của D.Ricardo được hiểu là sự khác biệt tương đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng một loại sản phẩm. Lý thuyết về lợi thế so sánh chỉ ra rằng: một quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối, nhưng có lợi thế so sánh (tương đối) về một số loại sản phẩm nhất định và biết cách khai thác tốt các lợi thế này thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất và thương mại quốc tế thì vẫn có thể nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế mình. Điều này, đã khắc phục được nhược điểm cơ bản về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và được coi là một trong những quy luật quan trọng nhất của nền kinh tế học phát triển.4 Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler: Theo Haberler, chi phí cơ hội của một loại sản phẩm (X) là số lượng sản phẩm loại khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị sản phẩm X.