CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1.Lý thuyết Thương mại quốc tế 1. Nguyên nhân của Thương mại quốc tế “Thuận lợi về giá cả mang tính cạnh tranh” là nền tảng cho mục tiêu có hiệu quả từ thương mại. Hai quốc gia sản xuất hai mặt hàng, lợi nhuận đạt được cao nhất khi một đất nước xuất khẩu các sản phẩm có giá cạnh tranh thấp hơn ở trong nước so với ở nước ngoài khi trao đổi thương mại đối với những nước khác có giá cạnh tranh ở nước ngoài cao hơn trong nước. Có hai lý thuyết về lợi thế cạnh tranh: một là lý thuyết truyền thống của David Ricardo và gần đây là lý thuyết của hai nhà kinh tế học Scandinavian, Heckscher và Ohlin.
A - Mô hình lợi thế giá cạnh tranh truyền thống: Giả sử chỉ có hai nước (CHLB Đức và Việt Nam) và hai mặt hàng (café và máy móc ). Tương tự, lấy L cafe = số giờ lao động cần để sản xuất ra 1 tấn café và L máy móc= số giờ cần để sản xuất ra 1 cái máy. So sánh với Việt Nam và xem xét lý thuyết giá trị của lao động truyền thống, CHLB Đức có lợi thế giá trị cạnh tranh về sản xuất máy móc và Việt Nam về ngành café nếu: {Lcafe/Lmáymóc} CHLB Đức > {Lcafe/Lmáymóc} Việt Nam Hoặc {LcafeCHLB Đức / Lcafe Việt Nam } > {Lmáy mócCHLB Đức / L máy mócViệt Nam} Thậm chí nếu CHLB Đức có hiệu quả hơn đối với mỗi mặt hàng mà, theo nghĩa: L caféCHLB Đức >L cafeViệt Nam và L máy móc CHLB Đức < L máy móc Việt Nam. Khi trao đổi thương mại diễn ra, CHLB Đức nên xuất khẩu máy móc sang Việt Nam để đổi lấy mặt hàng café.
Ví dụ: Công nghệ sản xuất hàng café và máy móc ở CHLB Đức và Việt Nam (tính theo giờ quy định để sản xuất ra một mặt hàng). Giả định các máy là như nhau. 1 1 tấn cái máy café Ở CHLB Đức 10 15 Ở Việt Nam 40 20 Vì 15/10 > 20/40 (nói cách khác 15/20 >10/40) CHLB Đức có lợi thế cạnh tranh về sản xuất máy móc và Việt Nam về café. B - Mô hình lợi thế cạnh tranh của Heckscher-Ohlin: Ngành café cần nhiều lao động hơn trong sản xuất và máy móc cần nhiều vốn hơn nếu: đối với máy móc > đối với ngành café Và CHLB Đức nhiều vốn hơn còn Việt Nam nhiều lao động hơn nếu: CHLB Đức < Việt Nam Điều này có nghĩa là CHLB Đức (nơi giá vốn khá rẽ) có lợi thế cạnh tranh về sản xuất những hàng hoá cần nhiều vốn (như máy móc) và Việt Nam (nơi vốn khá đắt và hiếm) lại có lợi thế cạnh tranh về những mặt hàng cần nhiều lao động.
Khi trao đổi thương mại diễn ra, CHLB Đức nên xuất khẩu máy móc sang Việt Nam và nhập khẩu hàng café. Cả hai đều cần được minh hoạ bằng mô hình giá cả hàng hoá như bảng dưới đây. Từ đó, có thể thấy rằng cứ mỗi 4 cái máy CHLB Đức xuất bằng đường biển sang Việt Nam, họ sẽ thu về hơn 1 tấn café (và có thể gần 2 tấn), trong khi đó, nếu không trao đổi cứ mỗi 4 cái máy móc được dùng trong nước sẽ chỉ mua được 1 tấn café. Tương tự, cứ mỗi tấn café Việt Nam xuất sang CHLB Đức sẽ thu về được 2 cái máy (có thể lên tới 4 cái) mà nếu không trao đổi mỗi tấn café bán đi chỉ thu về được 2 cái máy.
Giá cạnh tranh của hàng cafe và máy móc ở CHLB Đức và Việt Nam trước khi có trao đổi thương mại CHLB Đức Việt Nam Hàng cafe (tấn) 80 200 Máy móc (cái) 20 100 Giá trước khi trao đổi 1 tấn café có giá 1 tấn cafe chỉ của 1 tấn hàng café tính theo bằng 4 cái máy bằng 2 cái máy cái máy Nhận xét: trước khi đem trao đổi, café giá cao hơn ở CHLB Đức so với giá của nó ở Việt Nam, tức là CHLB Đức có lợi thế cạnh tranh về sản xuất máy móc và Việt Nam về sản xuất hàng café. Nguốn gốc của lợi thế cạnh tranh Lợi thế về kỹ thuật: Một nước có thể có lợi thế về kỹ thuật trong sản xuất cả hai sản phẩm hơn nước kia nhưng sự khác nhau về lợi thế có thể lớn hơn trong một mặt hàng. Các khoản thiên phú: Một nước (như Việt Nam) có thể được thiên phú nhiều hơn các nước khác (như CHLB Đức) về nguồn lực (như lao động) mà được sủ dụng rộng rãi hơn trong sản xuất một mặt hàng (như hàng café ) được sủ dụng để sản xuất ra một mặt hàng khác (như sản xuất máy móc), có thể sử dụng nguồn lực khác (như vốn). Trong trường hợp này, sẽ có cơ sở để trao đổi thương mại thậm chí lợi thế về kỹ thuật không có.
Sở thích: Một nước (như CHLB Đức), khi so sánh với một nước khác (như Việt Nam), có xu hướng tiêu thụ một loại hàng hoá (như hàng cafe) mạnh hơn so với một mặt hàng khác (như máy móc). Nếu chúng ta giả sử không có sự khác biệt nào về lợi thế kỹ thuật và các khoản thiên phú thì một nước sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng mà nước này tiêu thụ ít hơn. Sự tồn tại của các nền kinh tế như là nền tảng của trao đổi thương mại ngay cả khi không có lợi thế so sánh và những nước này bình đẳng trong sản xuất các mặt hàng, vẫn có một lý do cho vấn đề chuyên biệt hoá và thương mại nếu quá trình sản xuất được đánh dấu bằng giá trị mặt hàng giảm như là mức tăng của sản lượng. Những nước tham gia bàn thảo xem coi ai được chuyên môn hoá vào mặt hàng nào đó (ở khối lượng tối đa).
Lợi ích của Thương mại quóc tế Chuyên môn hoá và trao đổi thương mại thúc đẩy tìm ra nhiều công nghệ mới Trao đổi thương mại giúp cho một đất nước thuận lợi hơn trong tiêu thụ hàng hoá: trong những khi sản xuất vượt quá nhu cầu, sẽ có thặng dư thương mại trong khi có thâm hụt thương mại (hoặc vay từ nước ngoài) trong giai đoạn khi sản xuất trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước. Thương mại thúc đẩy quan hệ quốc tế. Tạo ra những thương hiệu khác nhau cho cùng một chủng loại hàng hoá. Những bất lợi của thương mại tự do đối với các nước đang phát triển Lý lẽ về Điều Kiện Mậu Dịch: Các nước đang phát triển chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, những nước mà tỷ giá xuất khẩu đã và đang có xu hướng giảm trong thập kỷ vừa qua.
Do đó, đối với mỗi mặt hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu ngày càng ít đi. Thiếu lối vào thị trường các nước phát triển: các nước phát triển dựng lên những rào cản đối với hàng hoá từ các nước đang phát triển vào thị trường của mình (thông qua thuế quan, hạn ngạch và hải quan) thậm chí ngay cả các nước đang phát triển chuẩn bị để bán với bất cứ mức giá nào mà hàng xuất khẩu của mình có thể. Lý thuyết cạnh tranh không đủ uyển chuyển: Thương mại làm giảm "khả năng học hỏi bằng cách làm việc" của các nước đang phát triển. Một nước có thể có lợi thế so sánh tiềm năng trong sản xuất một mặt hàng nào đó bằng cách học hỏi thông qua làm việc, cho dù bất lợi thế ở thời gian hiện tại.
Đây là cơ sở căn bản cho sự tranh cãi về hạn chế trong thương mại của ngành công nghiệp còn non trẻ. Lý luận về Quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý. Sự kết hợp có hiệu quả của những nhân tố này sẽ trợ giúp cho phương hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo. Đây là một hoạt động liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức, quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh.
Như một phần trong ý tưởng chiến lược về phát triển hoạt động kinh doanh, chúng ta phải vạch ra một phương hướng cụ thể, tuy nhiên những tác động tiếp đó về mặt chính sách (như doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động mới) hoặc tác động về mặt kinh doanh (như nhu cầu về dịch vụ tăng cao) sẽ làm phương hướng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi theo chiều khác. Điều này cũng hàm ý cả trách nhiệm giải trình của chúng ta khi quyết định xem nên có những hành động điều chỉnh để đi đúng hướng đã định hay đi theo một hướng mới. Tương tự như vậy, nó cũng liên quan đến cách điều hành doanh nghiệp nếu các mối quan hệ với các đối tác thay đổi. Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược là liên hệ doanh nghiệp với môi trường của nó, bao gồm các lực lượng kinh tế xã hội.
Quan trọng nhất của môi trường là ngành kinh tế, nơi mà các hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp đang diễn ra. Cấu trúc ngành có một ảnh hưởng lớn tới việc xác định những điều luật của cuộc chơi cũng như các chiến lược khả thi của doanh nghiệp. Mục đích chiến lược của một đơn vị kinh doanh là tìm được một vị trí trong ngành nơi doanh nghiệp có thể chống chọi lại với các các lực lượng cạnh tranh khác một cách tốt nhất thậm chí tác động đến chúng theo cách có lợi cho mình. Sự hiểu biết về những nguồn lực cơ sở của áp lực cạnh tranh sẽ làm sáng tỏ những mặt mạnh và mặt yếu cơ bản của công ty, cổ vũ nó trong việc xác lập cho mình một vị trí trong ngành, chỉ rõ những lãnh vực mà những thay đổi chiến lược có thể đem lại mức thù lao lớn nhất và những lĩnh vực mà xu thế phát triển của ngành ngầm báo sẽ giữ vai trò quan trọng Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một ngành nào đó nên có chiến lược của mình.
Chiến lược này có thể được xây một cách công khai thông qua một quá trình kế hoạch hóa hoặc có thể phát triển một cách ngấm ngầm thông qua hoạt động của các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không có một sự kết hợp cần thiết các hoạt động đơn lẻ không phải lúc nào cũng đem lại một kết quả khả quan cho mọi hoạt động. Đây cũng chính là lý do vì sao chúng ta cần một chiến lược thống nhất.