CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG LOGISTICS PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. Một số lý luận cơ bản về logistics và hoạt động xuất khẩu 1.1 Khái quát về logistics 1.1 Khái niệm logistics Logistics không phải là một lĩnh vực mới mẻ, nó đã xuất hiện từ xa xưa và gắn liền với sự vận động phát triển của xã hội loài người. Trên thực tế, thuật ngữ logistics có rất nhiều định nghĩa và những định nghĩa, nhận định này về logistics thay đổi theo thời gian. Bắt nguồn từ thuật ngữ “logistikos” có nguồn gốc từ Hy Lạp, thuật ngữ này đã phản ánh logistics là một môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được tiến hành theo đúng mục tiêu.
Chính vì vậy, ban đầu, thuật ngữ logistics được hiểu là hậu cần – bao gồm những công việc hỗ trợ phía sau cho các hoạt động chính yếu (PGS. An Thị Thanh Nhàn & cộng sự, 2018). Năm 1988, Hội đồng Quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC – The US. Logistics Administration Council) đưa ra khái niệm logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng.
Trong giáo trình Logistics and Supply Chain Management (1999) của Trường Đại học Hàng hải Thế giới (World Maritime University) định nghĩa rằng logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Hoạt động logistics không bị giới hạn trong nước mà còn là sự liên kết giữa các doanh nghiệp quốc tế, logistics mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển nền kinh tế. Năm 2004, theo Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển, còn được biết đến với tên gọi Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc (UNCTAD – United Nations Conference on Trade and Development) cho biết logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất. Mặc dù được dùng tương đối phổ biến, tuy nhiên, đây không phải là một định nghĩa chuẩn, bởi nó chưa trình bày được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm logistics.
Năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, khóa XI, ngày 14/6/2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Thương mại 2005, trong đó có quy định Trang 18/94 cụ thể khái niệm dịch vụ logistics. Tại điều 233 – Mục 4 – Chương VI của Luật Thương mại quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Như vậy, có thể thấy rằng, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ logistics và không có một định nghĩa thống nhất cho thuật ngữ này. Trên thực tế, hiện nay, người ta vẫn giữ nguyên thuật ngữ logistics trong các nghiên cứu và tài liệu chuyên môn mà không thể tìm ra một từ tiếng Việt nào có thể thay thế cho cụm từ logistics trong tiếng Anh.
Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã quyết định tìm hiểu logistics với cách tiếp cận là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (PGS. An Thị Thanh Nhàn & cộng sự, 2018).2 Đặc điểm của logistics Logistics là một hoạt động xuyên suốt, bắt đầu từ khi hàng hóa được sản xuất cho đến khi hàng hóa được tiêu thụ. Chính vì vậy, logistics được coi là một quá trình chứ không phải là một hoạt động riêng lẻ, là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó, logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược.
Logistics cũng đồng thời là quá trình bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các yếu tố đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng (GS. Đoàn Thị Hồng Vân & cộng sự, 2010). Theo Martin Christopher & Helen Peck (2003), phần giá trị gia tăng của sản phẩm được tính bằng tỷ số giữa tổng lợi ích do logistics đóng góp và tổng chi phí logistics doanh nghiệp bỏ ra. Điều này chỉ ra rằng, mục tiêu chính mà nhà quản trị logistics đặt ra là đưa hàng hóa và dịch vụ từ điểm xuất phát tới người tiêu dùng một cách hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với chi phí tiết kiệm, hợp lý.
Một hệ thống logistics được thiết kế và điều hành tốt phải giúp công ty tạo ra lợi nhuận. Tổng chi phí logistics được tính từ chi phí của các hoạt động cấu thành, bao gồm các chi phí như: chi phí dịch vụ khách hàng, chi phí vận tải, chi phí kho bãi, chi phí xử lý đơn hàng và quản lý thông tin, chi phí mua, chi phí dự trữ. Trên thực tế, để đạt được mục tiêu tối thiểu hóa chi phí logistics thì không thể giảm cục bộ các loại chi phí mà cần xem xét chúng trong mối tương quan đánh đổi (PGS. An Thị Thanh Trang 19/94 Nhàn & cộng sự, 2010).
Một hệ thống logistics lý tưởng cần cung ứng cho khách hàng bảy lợi ích (7R) sau: đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chi phí. Các hoạt động logistics chức năng bao gồm: dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, quản lý dự trữ, quản trị vận chuyển,quản trị cung ứng và mua hàng và quản trị kho và bao bì đóng gói. Theo quan điểm của M.Porter, logistics được coi như một bộ phận thống nhất trong chuỗi các hoạt động cơ bản tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Phần giá trị gia tăng do hoạt động logistics tạo ra là lợi ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm.
Thứ nhất, lợi ích về địa điểm, là phần giá trị cộng thêm vào sản phẩm, giúp sản phẩm có khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí. Việc tối ưu hóa về địa điểm tức là các doanh nghiệp sẽ chọn và bố trí vị trí của mạng lưới cơ sở hạ tầng, trả lời cho câu hỏi “Ở đâu?” như: “Tìm nguyên liệu cần thiết ở đâu?”, “Đặt các cơ sở sản xuất, các trạm trung chuyển, các trung tâm phân phối,. như thế nào, ở đâu?”, “Xác lập chi nhánh của công ty ở đâu?”, “Thiết lập mạng lưới ra sao thì hiệu quả?”. Thứ hai, lợi ích về thời gian, là phần giá trị được sáng tạo ra để sản phẩm có mặt đúng thời điểm và đáp ứng khoảng thời gian cung ứng mà khách hàng mong đợi (PGS.
An Thị Thanh Nhàn & cộng sự, 2010). Thông qua những giá trị và hoạt động cơ bản đó, hoạt động logistics đóng góp những vai trò to lớn như: Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp; Logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng; Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp… (PGS. An Thị Thanh Nhàn & cộng sự, 2010).2 Logistics và hoạt động xuất khẩu Trong hoạt động thương mại quốc tế, logistics đóng vai trò là nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia (Martí & cộng sự, 2014). Thật vậy, tính hiệu quả của hoạt động logistics sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương khi đảm bảo được sự an toàn và tốc độ vận chuyển của hàng hóa và giảm chi phí vận tải (Behar & cộng sự, 2008).
Điều này tác động đến sức cạnh tranh cho hàng hóa của một quốc gia trên thị trường quốc tế. Theo nghiên cứu của Celebi (2019) kết luận rằng đối với các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình thấp thì hiệu quả của hoạt động logistics làm tăng xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, trong khi nhập khẩu của các nền kinh tế có thu nhập trung bình và cao có xu hướng hưởng lợi nhiều hơn từ hiệu quả hoạt động logistics so với xuất khẩu của các quốc gia này. Trên thực tiễn, hoạt động logistics đóng vai trò phục vụ hoạt động xuất khẩu thông qua việc thực hiện các quy trình giao nhận, kho bãi, thủ tục Trang 20/94 với chi phí thấp, giúp cung ứng hàng hóa đến khách hàng đúng nơi, đúng thời điểm. Hai hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau, luôn đồng hành và phát triển cùng nhau và được gọi là logistics phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu hay logistics thương mại.
Logistics phục vụ hoạt động xuất khẩu hay logistic thương mại đều tập trung vào mục tiêu tối ưu hóa các dòng hàng hóa trong các chuỗi cung ứng nội địa và quốc tế. Điều này đòi hỏi cách tiếp cận quản lý trên các luồng vận động hàng hóa trong và giữa các khu vực và do đó cần tới vai trò của nhà nước trong các nỗ lực điều tiết hỗ trợ nhằm tạo ra những cân đối tổng thể và các điều kiện thuận lợi thương mại cho các dòng hàng di chuyển (PGS. An Thị Thanh Nhàn & cộng sự, 2018). Dựa trên định nghĩa của các tổ chức, các nhà khoa học trên thế giới, logistics thương mại được hiểu là là sự quản lý dòng hàng hóa quốc tế, các chứng từ và thủ tục thành toán liên quan với mục đích cắt giảm chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến logistics thông quan hàng hóa hóa các thủ tục và chứng từ (GFPTT – Global Facilitation Partnership for Transport and Trade – Tổ chức hỗ trợ thương mại và vận tải toàn cầu).