Tổng quan nghiên cứu

Ninh Thuận là địa phương có điều kiện tự nhiên đặc thù với khí hậu khô nóng quanh năm, lượng mưa trung bình chỉ từ 700 - 800 mm mỗi năm, nhưng lại sở hữu lợi thế thổ nhưỡng đất pha cát ven biển thích hợp cho cây măng tây xanh sinh trưởng. Tính đến năm 2023, diện tích sản xuất măng tây trên toàn tỉnh đã đạt 738,80 ha, tăng thêm 286,3 ha so với quy mô 452,5 ha của năm 2019. Tổng sản lượng măng tây thu hoạch năm 2023 đạt khoảng 5.991,67 tấn với năng suất trung bình 8,11 tấn/ha. Mặc dù măng tây đã được xác định là một trong 12 sản phẩm đặc thù mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội cho nông dân địa phương, sự phát triển của ngành hàng này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng còn lỏng lẻo, khâu bảo quản và chế biến sâu chưa phát triển, dẫn đến việc khoảng 84,13% sản lượng măng tây tươi phải tiêu thụ qua hệ thống thương lái truyền thống tại các chợ đầu mối ngoài tỉnh, trong khi kênh phân phối hiện đại chỉ chiếm 4,69%. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng sản xuất, đo lường hiệu quả kinh tế của các tác nhân và đánh giá cấu trúc chuỗi giá trị măng tây tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn 2019 - 2023. Dựa trên số liệu khảo sát thực tế từ 210 phiếu điều tra, đề tài xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa chi phí, gia tăng chuỗi giá trị và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp địa phương phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc tích hợp các mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Khung phân tích chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) được ứng dụng để phân loại các hoạt động chính (cung ứng đầu vào, canh tác, thu gom sơ chế, thương mại hóa) và các hoạt động hỗ trợ (chính sách khuyến nông, chuyển giao công nghệ, quản trị nguồn lực). Nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) cùng khung hướng dẫn liên kết chuỗi giá trị ValueLinks của Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GTZ, 2007) nhằm định lượng dòng dịch chuyển giá trị, biên lợi nhuận và cơ chế chi phối giữa các mắt xích. Tiếp cận ngành hàng Filière cũng được đưa vào để theo dõi dòng luân chuyển vật chất thực tế của sản phẩm măng tây từ khâu nhân giống đến người tiêu dùng cuối cùng. Bốn khái niệm kinh tế cốt lõi được lượng hóa xuyên suốt luận văn gồm: Doanh thu toàn chuỗi (Gross Output), Chi phí trung gian (Intermediate Costs), Giá trị gia tăng (Value Added) và Lợi nhuận ròng (Net Profit).

[Khâu 1: Cung ứng đầu vào] -> [Khâu 2: Canh tác nông hộ] -> [Khâu 3: Thu gom, sơ chế] -> [Khâu 4: Thương mại, phân phối] -> [Khâu 5: Tiêu dùng]

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 07 năm 2024. Số liệu thứ cấp về diện tích, sản lượng, biến động giá cả giai đoạn 2019 - 2023 được tổng hợp từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận. Cỡ mẫu điều tra sơ cấp gồm 210 quan sát, được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 4 vùng trọng điểm: huyện Ninh Phước (60 mẫu), huyện Ninh Hải (50 mẫu), huyện Thuận Bắc (50 mẫu) và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (50 mẫu). Cơ cấu mẫu phân bổ gồm 55 nông hộ trực tiếp trồng măng tây, 50 thương lái và đầu mối thu gom, 50 đơn vị phân phối bán buôn bán lẻ và 55 người tiêu dùng. Dữ liệu khảo sát được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm chuyên dụng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế chuỗi giá trị là nhằm bóc tách chi tiết từng khoản mục chi phí trung gian, ngày công lao động, khấu hao tài sản và tỷ suất sinh lời, từ đó so sánh khách quan hiệu quả kinh tế giữa các mô hình tổ chức sản xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích canh tác măng tây tại Ninh Thuận có sự tăng trưởng mạnh mẽ, mở rộng từ 452,5 ha năm 2019 lên 738,8 ha năm 2023, đạt mức tăng trưởng 63,27%. Vùng sản xuất tập trung lớn nhất tại huyện Ninh Phước với 288,1 ha (chiếm 38,99% diện tích toàn tỉnh), tiếp theo là huyện Thuận Bắc với 211,6 ha. Năng suất măng tây tăng đều qua các năm và đạt bình quân 8,11 tấn/ha vào năm 2023.

Thứ hai, việc tham gia hợp tác xã mang lại lợi ích tài chính vượt trội cho người trồng măng. Dữ liệu hạch toán trên diện tích 1.000 m2 cho thấy hộ thành viên hợp tác xã đạt năng suất 848,00 kg/năm, giá bán bình quân 58,25 ngàn đồng/kg, mang lại doanh thu 49,40 triệu đồng và lợi nhuận thuần 33,65 triệu đồng/năm. Trong khi đó, nhóm hộ ngoài hợp tác xã đạt sản lượng 817,00 kg/năm, giá bán bình quân 55,20 ngàn đồng/kg, doanh thu 45,10 triệu đồng và lợi nhuận chỉ đạt 28,85 triệu đồng/năm. Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của hộ trong hợp tác xã đạt 2,14 lần, cao hơn 20,22% so với mức 1,78 lần của hộ ngoài hợp tác xã.

So sánh hiệu quả kinh tế trên 1.000 m2 giữa 2 nhóm hộ:
-------------------------------------------------------------------------
Chỉ tiêu kinh tế               Hộ trong HTX          Hộ ngoài HTX
-------------------------------------------------------------------------
Tổng chi phí sản xuất          15,75 triệu đồng       16,25 triệu đồng
Sản lượng trung bình           848,00 kg              817,00 kg
Giá bán trung bình             58,25 ngàn đồng/kg     55,20 ngàn đồng/kg
Doanh thu bình quân            49,40 triệu đồng       45,10 triệu đồng
Lợi nhuận ròng                 33,65 triệu đồng       28,85 triệu đồng
Tỷ suất Lợi nhuận / Chi phí    2,14 lần               1,78 lần
Tỷ suất Lợi nhuận / Doanh thu  0,68 lần (68%)         0,64 lần (64%)
-------------------------------------------------------------------------

Thứ ba, cơ cấu tiêu thụ măng tây phân bố không đồng đều giữa các kênh thị trường. Khoảng 84,13% sản lượng măng tươi toàn tỉnh được phân phối qua kênh thương lái và chợ đầu mối truyền thống tại các đô thị lớn ngoài tỉnh. Kênh phân phối hiện đại qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi đạt giá trị kinh tế cao nhưng chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn là 4,69%.

Thứ tư, khảo sát 55 nông hộ chỉ ra rằng 58,2% hộ có quy mô canh tác nhỏ lẻ dưới 0,5 ha; 50,9% chủ hộ có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống; và giống măng tây xanh chiếm ưu thế áp đảo với 76,4% diện tích, trong khi giống măng tây tím chiếm 14,5% và măng tây trắng chiếm 9,1%.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế giữa hai nhóm hộ phản ánh vai trò then chốt của mô hình kinh tế tập thể. Các tổ chức như Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tuấn Tú giúp thành viên tiếp cận giống F1 chuẩn, mua vật tư phân bón với giá gốc, và tối ưu hóa chi phí sản xuất xuống còn 15,75 triệu đồng/1.000 m2 so với mức 16,25 triệu đồng của hộ tự do. Hơn nữa, việc liên kết tiêu thụ giúp sản phẩm của hợp tác xã đạt giá bán cao hơn 5,52% nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại sản phẩm.

So sánh với các nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, chuỗi măng tây Ninh Thuận cũng chịu sự chi phối lớn từ thương lái trung gian. Việc 84,13% sản lượng phụ thuộc vào kênh chợ tự do khiến nông dân đối mặt với rủi ro bị ép giá khi vào vụ thu hoạch rộ do măng tươi có thời gian bảo quản ngắn. Trên sơ đồ dòng giá trị, khâu bán buôn và bán lẻ tại thị trường đích chiếm tỷ trọng giá trị gia tăng thuần tương đối lớn, trong khi người nông dân phải gánh chịu toàn bộ chi phí vật tư và rủi ro thời tiết, sâu bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cấp chuỗi giá trị măng tây Ninh Thuận giai đoạn 2024 - 2030:

Thứ nhất, mở rộng và củng cố liên kết ngang và liên kết dọc trong toàn chuỗi. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh tuyên truyền, vận động nông hộ tham gia hợp tác xã kiểu mới, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hộ nông dân có hợp đồng bao tiêu sản phẩm lên trên 60% vào năm 2026 nhằm giảm thiểu rủi ro biến động giá.

Thứ hai, chuẩn hóa nguồn giống và quy trình kỹ thuật canh tác. Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố cùng Chi cục Trồng trọt triển khai khảo nghiệm, chuyển giao các bộ giống măng tây xanh lai F1 kháng bệnh tốt, áp dụng quy trình tưới tiết kiệm kết hợp bón phân hữu cơ vi sinh, phấn đấu nâng năng suất bình quân toàn tỉnh từ 8,11 tấn/ha lên mức 10,50 tấn/ha vào năm 2027.

Thứ ba, thúc đẩy thương mại hóa và tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại. Sở Công Thương hỗ trợ các hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương như Công ty TNHH Linh Đan hoàn thiện chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng măng tây tiêu thụ qua kênh siêu thị và chuỗi bán lẻ cao cấp từ 4,69% lên mức 25 - 30% trong 3 năm tới.

Thứ tư, đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dây chuyền kho lạnh bảo quản tiêu chuẩn và cơ sở chế biến bột măng tây, trà măng tây sấy khô nhằm tận dụng 100% sản phẩm loại 2 và loại 3, giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống dưới mức 5%.

Thứ năm, triển khai hệ thống số hóa quản lý chuỗi cung ứng. Áp dụng tem truy xuất nguồn gốc QR code cho toàn bộ sản phẩm măng tây Ninh Thuận, kết nối các nền tảng logistics hiện đại nhằm giảm từ 15 - 20% chi phí vận chuyển trung gian.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách nông nghiệp tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công Thương, Chi cục Phát triển Nông thôn khu vực Nam Trung Bộ. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu cập nhật về 738,8 ha diện tích canh tác măng tây để xây dựng quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn.

Thứ hai, các hợp tác xã nông nghiệp, chủ trang trại và doanh nghiệp chế biến nông sản. Các đơn vị này có thể sử dụng dữ liệu hạch toán chi phí 15,75 triệu đồng/1.000 m2 và các mô hình liên kết mẫu để xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, ký kết hợp đồng bao tiêu và đàm phán giá cung ứng.

Thứ ba, bà con nông dân đang canh tác hoặc có dự định chuyển đổi sang trồng măng tây. Luận văn cung cấp hướng dẫn định lượng về cơ cấu chi phí, giống canh tác và minh chứng về mức lợi nhuận 33,65 triệu đồng/1.000 m2/năm khi tham gia vào tổ chức hợp tác xã.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đề tài là nguồn tham khảo tiêu biểu về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị ValueLinks kết hợp công cụ lượng hóa kinh tế đối với cây trồng nhiệt đới.

Câu hỏi thường gặp

Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng măng tây trong hợp tác xã vượt trội hơn hộ ngoài hợp tác xã như thế nào?
Nông hộ trong hợp tác xã đạt lợi nhuận ròng 33,65 triệu đồng/1.000 m2/năm, cao hơn 16,64% so với mức 28,85 triệu đồng của hộ ngoài hợp tác xã. Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí đạt 2,14 lần (so với 1,78 lần) nhờ giảm chi phí đầu vào xuống 15,75 triệu đồng và bán được giá cao hơn ở mức 58,25 ngàn đồng/kg.

Thách thức lớn nhất trong khâu tiêu thụ măng tây tươi tại Ninh Thuận hiện nay là gì?
Thách thức lớn nhất là khoảng 84,13% sản lượng măng tây tươi phụ thuộc vào kênh thương lái để tiêu thụ tại các chợ truyền thống ngoài tỉnh. Kênh siêu thị có giá trị gia tăng cao chỉ chiếm 4,69%, khiến người trồng măng dễ bị động và chịu rủi ro ép giá khi thị trường biến động.

Cây măng tây xanh có đặc tính sinh trưởng và chu kỳ thu hoạch ra sao tại Ninh Thuận?
Măng tây là cây thảo lâu năm, có thể cho thu hoạch liên tục từ 6 - 8 năm, thậm chí kéo dài 10 - 15 năm nếu chăm sóc đúng quy trình. Sau 4 - 6 tháng xuống giống, cây bắt đầu cho thu hoạch măng hàng ngày, sản lượng đỉnh cao tập trung từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 của chu kỳ sinh trưởng.

Phương pháp nghiên cứu và cỡ mẫu nào được sử dụng trong luận văn?
Luận văn tiến hành khảo sát ngẫu nhiên phân tầng 210 mẫu (gồm 55 nông hộ, 50 đầu mối thu gom, 50 nhà phân phối và 55 người tiêu dùng) tại 4 địa bàn trọng điểm. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng kết hợp khung lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter, Kaplinsky & Morris và GTZ.

Những giải pháp nào được đề xuất để nâng cao giá trị ngành hàng măng tây Ninh Thuận đến năm 2030?
Đề tài đề xuất 5 giải pháp trọng tâm: mở rộng hợp tác xã nâng tỷ lệ bao tiêu lên trên 60%, tuyển chọn giống F1 nâng năng suất lên 10,50 tấn/ha, tăng tỷ trọng kênh phân phối hiện đại lên 25 - 30%, đầu tư chế biến sâu thành trà và bột măng tây, đồng thời số hóa truy xuất nguồn gốc toàn chuỗi.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển chuỗi giá trị măng tây tại tỉnh Ninh Thuận với diện tích 738,8 ha và sản lượng 5.991,67 tấn vào năm 2023.
  • Minh chứng định lượng rõ nét về hiệu quả tài chính vượt trội của nhóm hộ tham gia hợp tác xã với tỷ suất sinh lời đạt 2,14 lần, cao hơn đáng kể so với mức 1,78 lần của hộ tự do.
  • Chỉ rõ nút thắt phân phối khi 84,13% sản lượng phụ thuộc vào kênh chợ truyền thống và chỉ 4,69% sản lượng được tiêu thụ qua hệ thống bán lẻ hiện đại.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về liên kết chuỗi, chuẩn hóa giống F1, nâng cấp công nghệ chế biến sâu và mở rộng thị trường thương mại giai đoạn 2024 - 2030.
  • Đề tài đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận theo hướng hiện đại, gia tăng giá trị và phát triển bền vững.