Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Getahun và cộng sự (2018) đã phân tích chuỗi giá trị táo tại vùng cao nguyên trung tâm Ethiopia. Nội dung phân tích chuỗi giá trị dựa trên khung phân tích của GTZ (2007).
Dữ liệu được thu thập từ 201 hộ trồng táo, 2 người trồng thương mại, 2 vườn ươm của chính phủ, 5 chuyên gia, 11 thương nhân va 24 người tiêu dùng và được phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích chuỗi giá trị. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng các tác nhân trực tiếp trong chuỗi giá trị là các nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất, thương nhân và người tiêu dùng và các chức năng liên quan là cung cấp đầu vào, sản xuất, tiếp thị và tiêu thụ. Người trồng táo duy trì biên độ tiếp thị ròng thấp nhất (13%) trong khi người thu gom và người bán hàng rong duy trì biên độ tiếp thị ròng cao nhất (lần lượt là 26% và 28%). Người trồng táo tạo ra 19% giá trị trong khi thương nhân chịu trách nhiệm cho tỷ lệ phần trăm giá trị gia tăng cao nhất (80,6%).
Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị còn yếu, thể hiện ở sự phối hợp theo chiều ngang hạn chế trong nội bộ người sản xuất, trong nội bộ thương nhân va sự phối hợp theo chiều dọc hạn chế dọc theo chuỗi giá trị và thiếu minh bạch thông tin. Ngoài ra, dịch bệnh và sâu bệnh, cây giống kém chất lượng, năng suất thấp và thu hoạch kém chất lượng đã ảnh hưởng tiêu cực đến chuỗi giá trị. Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp phát triển chuỗi giá trị bền vững thông qua việc thiết lập các nền tảng đổi mới và dịch vụ khuyến nông hiệu quả. Kulwijila (2018) đã nghiên cứu bản đồ chuỗi giá trị nho ở vùng Dodoma, Tanzania.
Nội dung phân tích chuỗi giá trị dựa trên khung phân tích của Kaplinsky và Morris (2001). Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 240 nông dân và 30 thương nhân. Thống kê mô tả, nhiều phản hồi và phân tích tiểu ngành đã được sử dụng dé phân tích dữ liệu thu thập được. Kết quả chỉ ra rằng các tác nhân chính trong chuỗi giá trị nho là các nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi. Kết quả cho thay mối quan hệ giữa các tac nhân rất yêu vì không xác định được hiệp hội nông dân và thương nhân. Các hạn chế chính doc theo chuỗi giá trị góp phan gây ra tôn thất nho là chi phi sản xuất và vận chuyền cao, dịch vụ khuyến nông kém, khả năng tiếp cận thông tin tiếp thị hạn ché, tiếp cận thị trường không đầy đủ, thiếu tín dụng, kiến thức kém về xử lý sau thu hoạch, đường sa kém, công nghệ sau thu hoạch không phù hợp va hàng hóa bi hư hỏng. Nghiên cứu khuyến nghị sự can thiệp của chính phủ để trợ cấp đầu vào nho và phát triển cơ sở hạ tầng.
Dahal và Rijal (2020) đã nghiên cứu chuỗi giá trị gừng tại Sindhuli, miền Trung Nepal. Nghiên cứu tiến hành khảo sát đối với 120 nông dân được chọn ngẫu nhiên và 10 thương nhân tham gia vào doanh nghiệp gừng. Nghiên cứu dựa vào lý thuyết chuỗi giá trị của phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ Eschborn (2007) với các phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi. Phân tích chuỗi giá trị cho thấy nhà sản xuất, thương nhân (bán buôn và xuất khẩu), nhà bán lẻ và người tiêu dùng là những tác nhân chính tham gia.
Người nông dân nhận được mức lợi nhuận đáng kế 55% giá bán lẻ. Tỷ lệ B/C của việc trồng gừng trong khu vực nghiên cứu là 2,42 cho thấy rằng việc trồng gừng là một hoạt động kinh doanh có lãi. Giá cả biến động, thiếu cơ sở hạ tầng chế biến và bảo quản, không có sẵn hạt giống rễ kịp thời, tình trạng khan hiếm giống cải tién và người nông dân thiếu kiến thức về các biện pháp canh tác cải tiến là những hạn chế chính của việc trồng gừng. Mataia và cộng sự (2020) sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) phân tích chuỗi giá trị lúa gạo ở Philippines và đề xuất các chiến lược nâng cấp dé nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành lúa gạo.
Dữ liệu khảo sát thu thập từ nông dân, thương nhân lúa, nhà xay xát, nhà bán buôn, nhà bán buôn và nhà bán lẻ ở 20 tỉnh sản xuất gạo lớn của Philippines. Với các phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi và phân tích ma trận SWOT, nghiên cứu này đã phân tích chỉ tiết hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi giá trị và đề xuất các giải pháp nâng cấp khả năng cạnh tranh của ngành lúa gạo Philippines Sujana (2021) đã phân tích việc sản xuất lúa gạo ở quận Rupandehi của Nepal, giá trị gia tăng của nó và mối liên kết của các tác nhân chính trong chuỗi giá trị cùng với việc phát hiện các hạn chế, điểm mạnh, cơ hội và thách thức ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị lúa gạo. Nghiên cứu thu thập thông tin từ 100 nông hộ, 5 nhà xay xát, 5 nhà bán buôn, 5 nhà bán lẻ và 5 người tiêu dùng. Nghiên cứu sử dụng tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) và Eschborn GTZ (2007), kết hợp với phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi và phân tích ma trận SWOT dé đề xuất các giải pháp nâng cấp chuỗi.
Kết quả cho thấy, các tác nhân chính trong chuỗi giá trị lúa gạo là các nhà cung cấp đầu vào, người sản xuất lúa gạo, thương nhân/người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ và người tiêu dùng. Trong đó, nhà cung cấp đầu vào đạt lợi nhuận cao nhất, tiếp đến là người sản xuất. Qua ma trận SWOT, nghiên cứu nhắn mạnh vai trò của chính phủ trong kiểm soát giá ca vat tư đầu vào nhằm ổn định chuỗi. Các nghiên cứu trong nước Đỗ Thị Nâng và Nguyễn Thị Hồng (2018) đã phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận.
Nghiên cứu dựa vào lý thuyết chuỗi giá trị của phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ Eschborn (2007) với các phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi. Nghiên cứu thu thập thông tin từ các nhóm tác nhân tham gia chuỗi gồm: Đại lý vật tư nông nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận, hộ nông dân sản xuất nho Ninh Thuận, thương lái, doanh nghiệp, cơ sở chế biến, thành viên Hiệp hội nho Ninh Thuận. Nghiên cứu đã hiệu quả của các tác nhân tham gia chuỗi. Qua đó cho thấy, giữa hộ sản xuất nho Ninh Thuận và người thu mua là mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ, người sản xuất phụ thuộc vào thương lái trong tiêu thụ sản phâm, làm cho phân lớn người sản xuât rơi vào tình cảnh bị ép giá và sản xuât vẫn mang tính chất “lấy công làm lãi”.
Từ việc thiếu các mối liên kết dọc giữa sản xuất và tiêu thụ sản phâm dẫn đến thiếu động cơ dẫn dắt hộ nông dân liên kết với nhau dé hình thành và phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả hơn như tổ sản xuất hay các HTX. Nguyễn Quốc Nghỉ và cộng sự (2018) đã phân tích chuỗi giá trị sản phẩm dâu Ha Châu ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 84 quan sát, bao gồm các tác nhân như nông hộ, thương lái, vựa và tác nhân bán lẻ. Nghiên cứu dựa vào lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001), phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ.
Eschborn (2007), bộ công cụ phân tích chuỗi giá trị của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2013) và sự tham gia của các tác nhân tham gia chuỗi. Các phương pháp nghiên cứu gồm phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chuỗi giá trị sản phẩm dâu Hạ Châu được vận hành chủ yeu thong qua 4 kénh thị trường chính. Phan lớn sản lượng được nông hộ bán chủ yếu cho vựa trái cây (chiếm 43,67%) và thương lái đường dài (chiếm 43,26%).
Trong các kênh thị trường chính, kênh 1 và kênh 2 là 2 kênh tạo ra giá trị gia tăng và nhận về giá trị gia tăng thuần cao nhất. Trong các kênh thị trường có mặt của tác nhân bán lẻ thì đây là tác nhân tạo ra giá trị gia tăng và nhận về giá trị gia tăng thuần cao nhất so với các tác nhân còn lại. Kết quả nghiên cứu đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm dâu Ha Châu ở huyện Phong Điền, TP. Lê Thị Bách Thảo và Trần Cao Bảo (2020) nghiên cứu chuỗi giá trị rau an toàn tại thành phó Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Nghiên cứu tiền hành khảo sát 150 tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị rau an toàn (RAT) tại xã An Phú - thành phó Pleiku, tinh Gia Lai. Nghiên cứu sử dụng lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) và Eschborn GTZ (2007), kết hợp với phương pháp phân tích chuỗi giá trị, phân tích hiệu quả kinh tế của các khâu trong chuỗi và phân tích SWOT. Chuỗi giá trị RAT Gia Lai có hai kênh thị trường truyền thống nhưng hai kênh này có biéu hiện của sự mat cân đối trong phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi. Kênh 1 là kênh tiêu thụ gan 80% sản lượng RAT của toàn tỉnh, tuy nhiên GTGT thuần thấp, lợi nhuận tập trung vào người bán lẻ.
Kênh thị trường 3 (nông dân - công ty chế biến - người bán lẻ - tiêu dùng) đầy tiềm năng phát triển do sản phâm dau ra của kênh này có GTGT cao, sản phẩm có thương hiệu và nguồn gốc rõ ràng. Nghiên cứu đã đề xuất 4 nhóm chiến lược từ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành sản xuất RAT nhằm nâng cấp chuỗi giá trị theo hướng có lợi cho các tác nhân tham gia trong chuỗi, đặc biệt là người nông dân. Khổng Tiến Dũng (2021) đã phân tích chuỗi giá trị và tình hình liên kết sản xuất và tiêu thụ chanh không hạt ở tỉnh Hậu Giang. Số liệu sơ cấp thu thập từ 164 nông hộ trồng chanh và 25 tác nhân khác trong CGT chanh không hạt.