Phần mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm Vài nét về cây quế Quế tên koa học là Cinnamomum Cassia. BL thuộc họ long não Lauraceae. Tên tiếng anh là Cinamon, tên thông thường là cây quế, ở Việt Nam, nhân dân ta gọi với tên gọi khác nhau theo từng địa phương như Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy quế.
Tuy nhiên, dù gọi là gì thì chúng vẫn là loại cây thân gỗ, thường xanh, cao tầm 10-20m. Vỏ cây màu nâu xám, dày, nhẵn ở cây non và sần sùi ở cây già. Lá cây quế rừng thường là phiến lá đơn, hình xuông thuôn dài, mọc so le hoặc gần như đối. Lúc còn nhỏ cây cần có bóng che để sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn mức độ chịu bóng của cây càng giảm.
Sau 3-4 năm trồng thì cây quế rừng hoàn toàn ưa sáng. Bộ rễ cây phát triển mạnh, rễ lớn cắm sâu vào đất, rễ nhỏ lan rộng đan chéo vào nhau nên cây thường chắc khỏe, sinh sống tốt ở các khu vực đồi núi dốc, đất đai cằn cỗi, kém màu mỡ. Chu kỳ sinh trưởng của cây quế rừng khá dài. Từ 8-10 năm tuổi cây mới bắt đầu ra hoa ở các nách lá đầu cành.
Hoa ra từng chùm, màu trắng hoặc phớt vàng, nhỏ chỉ cỡ nửa hạt gạo nhưng hương thơm mát dịu, lan xa. Với những rừng quế thấp thì khoảng 3-5 năm người trồng đã có thể thu hoạch tinh dầu. Tuy nhiên, chất lượng tinh dầu thường tốt, ổn định nhất sau khi cây quế rừng đã trên 15 năm tuổi. Tất cả các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu nhưng phần vỏ luôn chứa hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt tới 4- 5%.
Tinh dầu quế sau khi trưng cất có màu vàng nhạt với thành phần chủ yếu là Cinnamaldehyde chiếm khoảng 70 – 90%. [1] Đặc điểm sinh thái của cây Quế Tên khoa học: Cinnamomum loureirii Nees (Cây Quế) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophita) h 5 Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân Lớp Ngọc Lan (Magnoliidae) Bộ Long Não (Laurales) Họ Long Não (Lauraceae) Chi Cinnamomum Tên Việt Nam: cây Quế Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy Quế. Tên tiếng Anh: Cinnamo Cây Quế là loại cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, vì vậy các vùng có Quế mọc tự nhiên nhiều ở nước ta là vùng có lượng mưa cao từ 2000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hang năm từ 210C-230C, ẩm độ bình quân trên 80%. Quế sinh trưởng tốt trên đất dồi núi có độ dốc thoải, tầng đất dày,ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước, độ pH khoảng 5-6, đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, riolit.
Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hóa, tầng đất mỏng, khô. Độ cao thích hợp thường thấy từ 300-700m (độ cao tuyệt đối). Nhân dân các vùng có Quế cho biết lên cao hơn cây Quế có xu hướng thấp, lùn, chậm lớn nhưng vỏ dày và nhiều dầu, xuống thấp hơn cây Quế thường dễ bị sâu, vỏ mỏng và ít dầu trong vỏ, đời sống của cây cũng ngắn hơn. 1: Hình ảnh cho vỏ quế h 6 Hình 2.
2: Hình ảnh cho Rừng quế Hình 2. 3: Hình ảnh người dân khai thác quế 2.2 Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Những lợi thế so sánh mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất cần được xem xét khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh khách nhau, thường thì có các loại hình kinh doanh như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,… việc thành lập công ty để kinh doanh cũng trở lên đơn giản hơn bởi các dịch vụ tư vấnthành lập công ty rất phổ biến trên thị trường hiện nay.
Chính vì vậy việc lựa chọn được một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất kinh doanh , quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập công ty là vô cùng quan trọng , có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về sau. h 7 Các loại hình doanh nghiệp cơ bản hiện nay là: Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% từ nhà nước, hoạt động phát triển kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của xã hội do nhà nước quản lý. Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của 1 cá nhân. Do cá nhân đó đứng ra tổ chức thành lập doanh nghiệp, quản lý và trị trách nhiệm về pháp lý.
Doanh nghiệp chung vốn hay công ty: là loại hình công ty do nhiều thành viên góp chung vốn để kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận cũng như cùng chịu lỗ. 4: Hình ảnh Một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh quế h 8 2.3 Khái niệm về nông dân và hộ nông dân Nông dân là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, xoay quanh khái niệm nông dân khá khác biệt. Thông thường, nông dân được hiểu là những người mà hoạt động sản xuất chính của họ là nông nghiệp.
Nông dân có thể được định nghĩa rất đơn giản như: “Người điều hành một trang trại” hay là “Người sống bằng hoạt động trồng trọt, chăn nuôi” Nhưng cũng có không ít khái niệm phức tạp, theo Wikipedia thì: “Nông dân là một người tham gia vào nông nghiệp, người nuôi sinh vật bằng thực phẩm hoặc nguyên liệu, thường bao gồm chăn nuôi gia súc và trồng trọt như sản xuất và ngũ cốc. Một người nông dân có thể sở hữu đất hoặc có thể làm việc như một người lao động về đất đai thuộc sở hữu của người khác, nhưng trong nền kinh tế tiên tiến, nông dân thường là một chủ trang trại, trong khi nhân viên của trang trại là lao động nông nghiệp…’’[2] Còn theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất.
Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội…”. Dưới góc độ của liên kết kinh tế, nông dân tham gia vào chuỗi liên kết với vai trò là một chủ thể kinh tế, hộ nông dân, là loại hình kinh tế trong đó hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp, dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) [3] 2.4 Khái niệm liên kết kinh tế Hiểu một cách đơn giản liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra nhũng biện pháp có liên quan đến hoạt động của mình nhàm thúc đẩy h 9 việc kinh doanh phát triển theo chiều hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tác tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc thông qua các hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước. Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp đỡ nhau để có khoản thu nhập cao nhất.
Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết. Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu. nội dug này sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau. Các tổ chức tham gia liên kết là các đơn vị có tư cách pháp nhân đầy đủ, không phân biệt quân hệ sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà Nước thành lập một tổ chức kinh tế với tên riêng, có quy chế hoạt động riêng, do các đơn vị thành viên dựa vào qui định này cùng nhau thỏa thuận để xác định và phải được một cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền cho phép hoạt động.
Các tổ chức kinh tế có thể cùng một lúc thâm gia nhiều tổ chức liên kết khác nhau, và phải tôn trọng quy chế hoạt động của các tổ chức đó. Trong khi tham gia liên kết kinh tế, không một đơn vị nào bị mất quyền tự chủ của mình, cũng như không được giẩm bất cứ nghĩa vụ nào đối với nhà nước theo pháp luật hay nghĩa vụ hợp đồng đã kí với các đơn vị khác.1 Các hình thức liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp – nông dân Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp có nhiều hình thức và ở nhiều mức độ khác nhau. Căn cứ vào quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ, có liên kết dọc, liên kết ngang và liên kết hỗn hợp. Liên kết Nông dân DN, cơ dọc sở chế biến Khách hàng Nông dân DN, cơ sở chế biến Khách hàng Nông dân DN, cơ sở chế biến Khách hàng Nông dân DN, cơ sở chế biến Khách hàng Liên kết Liên kết Liên kết ngang ngang ngang (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) Hình 2.
5: Mô tả liên kết dọc và liên kết ngang của doanh nghiệp – nông dân h 11 Liên kết dọc là hình thức liên kết của hai hay nhiều chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất theo hướng hoàn thiện của sản phẩm hay dịch vụ. Nghĩa là, nông dân liên kết với doanh nghiệp, cơ sở chế biến và các khách hàng (hình 2.